Cành cà phê ra trái trong vườn; bìa bài bón phân sau thu hoạch cà phê

Bón Phân Sau Thu Hoạch Cà Phê: Có Cần Bón Ngay? Bón Gì, Bón Lúc Nào Cho Vụ Sau

Hái xong cà phê, nhiều vườn làm ngay một việc quen tay: rải một đợt phân lớn quanh gốc để cây "lại sức" sau vụ. Cây vừa nuôi cả tấn hạt, nên ý nghĩ cần trả lại dinh dưỡng là đúng. Điều chưa rõ là trả bao nhiêu, trả vào lúc nào, và phân rải trên đất khô giữa mùa khô thì cây lấy được bao nhiêu. Quy trình kỹ thuật của Bộ Nông nghiệp cho cà phê vối kinh doanh không có lần bón nào ngay sau thu hoạch; lần bón đầu tiên trong năm nằm ở giữa mùa khô, đi cùng đợt tưới thứ hai.

Bài này đi qua bốn câu hỏi: một tấn cà phê nhân mang ra khỏi vườn bao nhiêu dinh dưỡng, quy trình chính thức đặt các lần bón vào lúc nào và vì sao, cả năm cần bón bao nhiêu theo sản lượng, và sau thu hoạch nên làm gì cho đất trong lúc chờ lần bón đầu. Mỗi con số đi kèm nguồn đã mở; chỗ nào chỉ có số liệu từ nước khác, bài nói rõ.

Trả lời nhanh

Bón phân sau thu hoạch cà phê không có nghĩa là bón ngay sau khi hái. Quy trình của Bộ Nông nghiệp chia phân cà phê vối kinh doanh làm bốn lần: lần một giữa mùa khô, kết hợp đợt tưới hai, chỉ bón phân SA; ba lần còn lại trong mùa mưa với lân, urê và kali; chỉ bón khi đất đủ ẩm. Mỗi tấn cà phê nhân mang đi khoảng 33 kg đạm và 30 kg K₂O theo ước tính cho Việt Nam. Trên đất bazan năng suất 3 tấn/ha, WASI khuyến cáo khoảng 220–250 kg N, 80–100 kg P₂O₅, 200–230 kg K₂O mỗi hecta mỗi năm. Sau thu hoạch, việc nên làm là ghi sản lượng, phân tích đất, ủ vỏ cà phê và chuẩn bị cho đợt tưới.

Một Tấn Cà Phê Nhân Mang Đi Bao Nhiêu Dinh Dưỡng?

Muốn biết trả lại bao nhiêu, trước hết cần biết vụ vừa rồi đã lấy đi bao nhiêu. Tổng hợp tài liệu quốc tế trong nghiên cứu mười năm của Đại học Southern Queensland (Úc), đăng trên Agronomy năm 2019, ghi mỗi tấn cà phê nhân lấy đi khoảng 33–63 kg N, 2–11 kg P₂O₅ và 47–67 kg K₂O. Cùng nghiên cứu dẫn một ước tính riêng cho các vườn cà phê vối Việt Nam của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI) cùng Viện Thổ nhưỡng Nông hóa: trung bình 33 kg N, 1 kg P₂O₅ và 30 kg K₂O cho mỗi tấn mỗi hecta. Con số này được dẫn lại; bản gốc chưa mở được.

Số liệu chi tiết nhất về các chất còn lại đến từ Brazil, trên cà phê Conilon, cùng loài với cà phê vối. Nghiên cứu của Đại học Liên bang Espírito Santo cùng Đại học Lisbon, đăng trên Emirates Journal of Food and Agriculture năm 2016, đo riêng hạt và vỏ cho mỗi tấn cà phê nhân:

Chất (mỗi tấn cà phê nhân) Trong hạt Trong cả trái (hạt và vỏ)
Đạm (N) 26–27 kg 33 kg
Kali (K) 17 kg 26 kg
Canxi (Ca) 1,5–2,1 kg 3,6–4,4 kg
Lưu huỳnh (S) 1,6–1,8 kg 2,7–2,8 kg
Magie (Mg) 1,3 kg 1,7 kg
Bo (B) 12–21 g 27–37 g

Hai điều rút ra từ bảng. Thứ nhất, đạm và kali là hai chất mất nhiều nhất, trong cả trái canxi đứng thứ ba. Thứ hai, lấy cột cả trái trừ cột hạt (phép tính của bài này), phần vỏ giữ khoảng 7 kg đạm và 9 kg kali cho mỗi tấn cà phê nhân. Vỏ cà phê đem bán hay đốt là phần dinh dưỡng đó ra khỏi vườn; ủ hoai rồi trả về gốc là giữ nó lại. Lưu ý bảng ghi kali dạng nguyên tố K; đổi ra K₂O như trên bao phân thì nhân khoảng 1,2.

Vụ vừa rồi lấy đi chủ yếu đạm và kali. Một phần đáng kể nằm trong vỏ cà phê, thứ đang chất đống ở sân phơi.

Quy Trình Chính Thức Đặt Các Lần Bón Vào Lúc Nào?

Quy trình tái canh cà phê vối của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Quyết định 2085/QĐ-BNN-TT, 2016) và hai bản trước đó của Cục Trồng trọt (2010, 2013) chia phân cho vườn kinh doanh làm bốn lần:

Lần 1 · Giữa mùa khô, cùng đợt tưới hai

Bón toàn bộ lượng phân SA (sunphat amon) của cả năm, ngay trước hoặc cùng lúc tưới để phân tan vào đất ẩm.

Lần 2 · Đầu mùa mưa

Toàn bộ phân lân, 30% urê, 30% kali. Lân bón riêng, cách gốc 30–40 cm, không trộn chung với urê.

Lần 3 · Giữa mùa mưa

40% urê, 30% kali.

Lần 4 · Khoảng một tháng trước khi hết mưa

30% urê, 40% kali, nuôi hạt chắc và nuôi đoạn cành sẽ mang hoa vụ sau.

Cách nông hộ thực sự bón cũng theo nhịp bốn lần. Theo dõi 798 vườn từ 2008 đến 2017 trong nghiên cứu Agronomy (2019) ghi: lần một lúc ra hoa, đậu trái (tháng ba, tháng tư), lần hai đầu mùa mưa (thường tháng sáu), lần ba lúc trái lớn (tháng tám, tháng chín), và lần cuối lúc hạt vào chắc và cành mang trái năm sau đang phát triển. Lần bón cuối mùa mưa ấy chính là phần "trả lại" cho vụ sau; nó diễn ra trước thu hoạch, khi đất còn ẩm.

Vì Sao Không Có Lần Bón Lớn Ngay Sau Khi Hái?

Quy trình ghi rõ một điều kiện: bón phân khi đất đủ ẩm. Ngay sau thu hoạch là đầu mùa khô, đúng giai đoạn quy trình năm 2020 của WASI gọi là siết nước, từ tháng mười một đến giữa tháng một, để nụ hoa phân hóa. Nghiên cứu Đại học Southern Queensland đăng trên Science of the Total Environment (2023) mô tả giai đoạn từ thu hoạch tới ra hoa có khoảng sáu tuần nụ ngủ, sau đó nông hộ tưới để hoa nở đồng loạt. Phân rải lên đất khô trong giai đoạn này nằm trên mặt đất cho tới khi có nước; cách quy trình xử lý là dời lần bón đầu tới lúc đất được tưới ướt lần thứ hai.

Tài Liệu Nước Ngoài Bón Ngay Sau Hái, Vì Sao Khác?

Nhiều tài liệu nước ngoài, như bản tin của Đại học Hawaii năm 1958, ghép việc cắt cành với một lần bón ngay sau thu hoạch. Đó là khí hậu và cà phê chè ở Kona; với cà phê vối Tây Nguyên có mùa khô rõ rệt, quy trình trong nước đặt lần bón đầu ở đợt tưới hai. Bài cắt cành cà phê sau thu hoạch nói về phần việc cắt; phần phân, bài này theo quy trình trong nước.

4 lần
bón mỗi năm: một lần mùa khô cùng đợt tưới hai, ba lần trong mùa mưa (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2016)
Chỉ SA
ở lần bón giữa mùa khô; lân, urê, kali để dành cho mùa mưa (cùng nguồn)
Tháng 5–9
phun phân bón lá 2–3 lần mỗi năm, loại giàu S, Mg, Zn, B (cùng nguồn)

Cả Năm Bón Bao Nhiêu? Tính Theo Sản Lượng

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), từ các thí nghiệm 2011–2013 ở Đắk Lắk và Gia Lai, khuyến cáo lượng nguyên chất mỗi hecta mỗi năm:

  • Đất bazan, năng suất bình quân 3 tấn/ha: 220–250 kg N, 80–100 kg P₂O₅, 200–230 kg K₂O.
  • Đất khác, 2–2,5 tấn/ha: 200–230 kg N, 100–130 kg P₂O₅, 180–200 kg K₂O.
  • Mỗi tấn cà phê nhân vượt mức trên: bón thêm 70 kg N, 20 kg P₂O₅, 70 kg K₂O.

Đổi ra phân đơn theo hàm lượng (phép tính của bài này): urê chứa 46% N, SA chứa 21% N, kali clorua (kali đỏ) chứa khoảng 60–61% K₂O. Một vườn bazan 3 tấn/ha cần 200–230 kg K₂O, tức khoảng 330–380 kg kali đỏ mỗi năm, chia 30–30–40 vào ba lần mùa mưa. Phần đạm, nếu bón 200–250 kg SA ở lần mùa khô (khoảng 42–52 kg N), phần còn lại lấy từ khoảng 370–450 kg urê chia ba lần mùa mưa. Vườn đạt 4 tấn/ha cộng thêm khoảng 70 kg N và 70 kg K₂O, tức khoảng 150 kg urê và 115 kg kali đỏ.

Bón Nhiều Hơn Có Được Nhiều Hơn Không?

Số liệu của chính nông hộ Tây Nguyên trả lời câu này. Nghiên cứu Agronomy (2019) theo dõi 798 vườn trong mười năm: hộ nhỏ ở Đắk Lắk và Gia Lai bón trung bình 369–403 kg N mỗi hecta, P₂O₅ 190–224 và K₂O 496–558 kg ở các tỉnh khác, hơn gấp đôi khuyến cáo với kali, và giữ nguyên mức đó năm này qua năm khác. Năng suất và lượng phân không có tương quan mạnh; nhóm tác giả kết luận có thể giảm tới 50% trong một số trường hợp, riêng kali chưa đủ dữ liệu để kết luận.

Đạm và kali mỗi hecta mỗi năm: khuyến cáo và thực tế

Thanh đỏ là đạm (N), thanh xanh là kali (K₂O); cả khung là 600 kg. Mỗi thanh vẽ tới số cao của khoảng.

Khuyến cáo WASI, đất bazan, 3 tấn/ha
Đạm 220–250 kg N · Kali 200–230 kg K₂O

Nông hộ trong khảo sát 2008–2017 (Agronomy, 2019)
Đạm 369–403 kg N · Kali 496–558 kg K₂O

Nông hộ trong khảo sát bón đạm cao hơn khuyến cáo khoảng 1,5 lần và kali hơn gấp đôi; đạm đo ở hộ nhỏ Đắk Lắk, Gia Lai, kali ở các tỉnh còn lại.
369–403 kg
đạm (N) mỗi hecta mà hộ nhỏ ở Đắk Lắk, Gia Lai bón trung bình, so với khuyến cáo 220–250 kg (Agronomy, 2019; WASI)
19–32%
lượng phân giảm được khi bón theo độ phì đất, năng suất tương đương (WASI, 2011–2013)
8,52 triệu
đồng lợi nhuận tăng thêm mỗi hecta trong cùng thí nghiệm

Bón thừa đạm còn để lại hậu quả trong đất. Tổng quan của WASI, CIAT, CIRAD và các trường đại học đối tác, đăng trên Agronomy for Sustainable Development năm 2025, kết luận lạm dụng phân đạm là nguyên nhân chính làm đất cà phê chua đi; đất vườn cà phê vối Tây Nguyên hiện có pH 4,06–5,64, và đạm dư cũng có thể làm giảm năng suất.

Ngược lại, bón theo đất cho kết quả không kém. Thí nghiệm của WASI giai đoạn 2011–2013 so cách bón theo độ phì đất với cách nông hộ đang bón: giảm 19,2% đạm, 31,7% lân và 30,3% kali, năng suất cao hơn 2,2% (chênh lệch không có ý nghĩa thống kê, tức coi như bằng nhau), và lợi nhuận tăng 8,52 triệu đồng mỗi hecta. Nghiên cứu Science of the Total Environment (2023) thêm một chi tiết: bón nhiều hơn chỉ đi kèm năng suất cao hơn ở những năm hoa nở muộn; năm hoa nở sớm thì không.

Sau Thu Hoạch, Nên Làm Gì Cho Đất Trong Lúc Chờ Lần Bón Đầu?

Khoảng thời gian từ hái xong tới đợt tưới hai không phải để bón phân hóa học, nhưng là lúc làm những việc quyết định lượng phân cả năm sau:

Bước 1 · Ghi lại sản lượng vụ vừa rồi

Số tấn nhân trên mỗi hecta là cơ sở để tính lượng phân theo khuyến cáo WASI ở trên. Không có con số này thì lượng phân chỉ là thói quen.

Bước 2 · Phân tích đất, nhất là pH

Thí nghiệm bón theo độ phì đất của WASI giảm được 19–32% phân mà không mất năng suất. Biết pH trước khi quyết định có bón vôi hay không, bón bao nhiêu.

Bước 3 · Ủ vỏ cà phê

Vỏ giữ khoảng 7 kg đạm và 9 kg kali mỗi tấn cà phê nhân. Ủ với phân chuồng và nấm đối kháng để có phân hữu cơ hoai cho đầu mùa mưa, hoặc làm vật liệu tủ gốc.

Bước 4 · Cắt cành, tủ gốc, chuẩn bị tưới

Cắt cành xong trước đợt tưới một, tủ gốc giữ ẩm, đo lưu lượng vòi tưới. Chuẩn bị sẵn phân SA cho đợt tưới hai.

Vôi Và Phân Hữu Cơ: Bón Lúc Nào, Bao Nhiêu?

Quy trình của Bộ đặt phân chuồng hoai 10–15 kg mỗi cây, 1–2 năm một lần (2–3 năm một lần khi vườn đã giao tán), hoặc phân hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh 2–3 kg mỗi cây mỗi năm, bón theo rãnh vào đầu hoặc giữa mùa mưa, không phải mùa khô. Ở Việt Nam, bón phân chuồng ủ hoai trên đất cà phê chua làm pH tăng 0,5 đơn vị sau ba năm thí nghiệm (dẫn trong tổng quan Agronomy for Sustainable Development, 2025).

Với vôi, quy trình của Bộ chỉ ghi lượng ở khâu làm đất trước khi trồng (1.000 kg vôi bột mỗi hecta). Cho vườn kinh doanh, chúng tôi chưa tìm được khuyến cáo trong nước nêu rõ lượng vôi hay mức pH cần đạt. Các thí nghiệm ở Brazil, Ethiopia, Indonesia và Rwanda cho thấy 1,6–4,8 tấn vôi mỗi hecta nâng pH đất cà phê thêm 0,4–1,3 đơn vị, còn bón vôi quá nhiều không nâng pH thêm mà chỉ tốn tiền. Vì vậy phân tích pH trước, rồi mới quyết định lượng vôi.

Có Nên Phun Phân Bón Lá Sau Thu Hoạch?

Quy trình của Bộ đặt phân bón lá 2–3 lần mỗi năm từ tháng năm đến tháng chín, dùng loại giàu lưu huỳnh, magie, kẽm và bo, và bổ sung kẽm, bo xuống đất 2–3 năm một lần vào đầu mùa mưa (20–30 kg kẽm sunphat và 10–15 kg borax mỗi hecta). Bài này chưa tìm được nghiên cứu nào cho thấy phun phân bón lá ngay sau thu hoạch làm tăng năng suất cà phê vối. Nếu cây có dấu hiệu thiếu chất rõ, gửi ảnh lá để xem đúng chất gì trước khi phun.

Ưu Điểm Của Bón Theo Quy Trình Và Theo Sản Lượng

Phân vào đất ẩm, cây lấy được

Mỗi lần bón đi kèm nước tưới hoặc mưa, đúng điều kiện "bón khi đất đủ ẩm" của quy trình.

Bớt tiền phân, giữ năng suất

Bón theo độ phì đất giảm 19–32% phân, lợi nhuận tăng 8,52 triệu đồng mỗi hecta (WASI, 2011–2013).

Đất bớt chua theo thời gian

Bớt đạm thừa là bớt nguyên nhân chính làm đất cà phê chua; phân hữu cơ nâng pH thêm.

Điểm Còn Hạn Chế
  • Khuyến cáo tính theo vườn trung bình. Vườn đất cát, vườn già, vườn mới tái canh cần lượng khác. Cách khắc phục: phân tích đất và điều chỉnh theo sản lượng thực của từng lô.
  • Chưa có lượng vôi khuyến cáo cho vườn kinh doanh trong nước. Số liệu vôi chủ yếu từ nước ngoài. Cách khắc phục: đo pH trước, bón vôi từng phần và đo lại năm sau.
  • Bảng dinh dưỡng chi tiết đến từ Brazil. Số canxi, magie, lưu huỳnh, bo đo trên Conilon ở Bahia. Cách khắc phục: dùng làm thứ tự ưu tiên (đạm, kali trước), không dùng làm liều chính xác.

Tìm Hiểu Sâu: Các Nghiên Cứu Đứng Sau Bài Này

Nơi nghiên cứu, tạp chí, năm Nội dung Kết quả chính
Đại học Southern Queensland; Agronomy, 2019 798 vườn cà phê vối, Việt Nam và Indonesia, 2008–2017 Bón 369–403 kg N/ha; năng suất không tương quan mạnh với lượng phân; giảm được tới 50% ở một số nơi
WASI, CIAT, CIRAD và đối tác; Agronomy for Sustainable Development, 2025 Tổng quan sức khỏe đất cà phê vối Việt Nam Đạm dư là nguyên nhân chính làm đất chua; pH 4,06–5,64; phân hữu cơ nâng pH 0,5 sau 3 năm
Đại học Liên bang Espírito Santo, Đại học Lisbon; Emirates Journal of Food and Agriculture, 2016 Dinh dưỡng trong hạt và vỏ cà phê Conilon, Brazil Mỗi tấn nhân: cả trái 33 kg N, 26 kg K; vỏ giữ khoảng 7 kg N, 9 kg K
Đại học Southern Queensland; Science of the Total Environment, 2023 Ra hoa sớm và năng suất cà phê vối Bón nhiều hơn chỉ tăng năng suất ở năm hoa nở muộn
IPNI Đông Nam Á, Viện Thổ nhưỡng Nông hóa; Better Crops, 2018 Dinh dưỡng cà phê vối Việt Nam Tăng phân không cải thiện năng suất nhưng đội chi phí; bón lệch làm ô nhiễm nguồn nước
WASI; thí nghiệm 2011–2013, Đắk Lắk và Gia Lai Bón theo độ phì đất so với cách nông hộ bón Giảm 19,2% N, 31,7% P, 30,3% K; năng suất tương đương; lãi thêm 8,52 triệu đồng/ha
Bộ Nông nghiệp và PTNT; Quyết định 2085/QĐ-BNN-TT, 2016 Quy trình tái canh cà phê vối Bốn lần bón; lần một giữa mùa khô cùng đợt tưới hai, chỉ bón SA; bón khi đất đủ ẩm

Bài này chưa tìm được khuyến cáo trong nước về lượng vôi và mức pH mục tiêu cho vườn cà phê vối kinh doanh, cũng chưa có nghiên cứu nào đo hiệu quả của phun phân bón lá ngay sau thu hoạch. Bảng dinh dưỡng chi tiết đo trên cà phê Conilon ở Brazil và được nêu đúng như vậy.

Tóm tắt
  • Bằng chứng mạnh: quy trình chính thức không có lần bón ngay sau thu hoạch; lần một là SA cùng đợt tưới hai; nông hộ Tây Nguyên đang bón đạm, kali nhiều hơn khuyến cáo mà năng suất không tăng tương ứng.
  • Bằng chứng có điều kiện: bón theo độ phì đất giảm 19–32% phân với năng suất tương đương (WASI, ô thí nghiệm lớn, không lặp lại); số liệu dinh dưỡng trong vỏ đến từ Brazil.
  • Việc làm theo: ghi sản lượng; phân tích đất; ủ vỏ cà phê; bón SA cùng đợt tưới hai; lân, urê, kali chia ba lần mùa mưa theo sản lượng; phân chuồng đầu hoặc giữa mùa mưa.

Sản Phẩm Cho Các Lần Bón Trong Năm Tại Quốc Việt Agri

Sau thu hoạch không cần mua phân để rải ngay. Hai sản phẩm dưới đây phục vụ đúng hai việc trong bài: ủ vỏ cà phê trong mùa khô, và phần kali chia vào ba lần bón mùa mưa. Bà con gửi sản lượng vụ vừa rồi và kết quả phân tích đất qua Zalo, đội ngũ Quốc Việt Agri tính cùng bà con lượng phân cho từng lần bón.

Nấm Đối Kháng TRICHODERMA 1 kg

Dùng ủ vỏ cà phê cùng phân chuồng cho hoai trong mùa khô, để có phân hữu cơ bón đầu mùa mưa hoặc vật liệu tủ gốc. Cách ủ theo hướng dẫn trên gói.

Xem sản phẩm →

Kali Đỏ PHÚ MỸ bao 50 kg

Kali clorua 61% K₂O, nguồn kali cho ba lần bón mùa mưa (30–30–40). Vườn bazan 3 tấn/ha cần khoảng 330–380 kg mỗi năm theo khuyến cáo WASI; bón khi đất đủ ẩm.

Xem sản phẩm →

Các sản phẩm khác cho cà phê nằm trong bộ sưu tập Sản Phẩm Cho Cây Cà Phê.

Kết Luận

Đợt phân rải vội sau khi hái xuất phát từ một ý tốt: trả lại cho cây những gì vụ vừa rồi đã lấy. Số liệu cho thấy phần trả lại cây dùng được nằm ở chỗ khác: ở lần bón cuối mùa mưa trước khi hái, ở đống vỏ cà phê đem ủ thay vì đem đốt, và ở lần bón SA cùng đợt tưới hai, khi đất đã ướt. Sau thu hoạch, việc của người trồng là ghi sản lượng, đo đất và ủ vỏ; phân sẽ đi vào đúng lúc đất có nước.

Nguồn Tham Khảo

  1. Byrareddy, V., Kouadio, L., Mushtaq, S., Stone, R. (2019). Sustainable production of Robusta coffee under a changing climate: a 10-year monitoring of fertilizer management in coffee farms in Vietnam and Indonesia. Agronomy 9(9): 499. University of Southern Queensland. doi.org/10.3390/agronomy9090499
  2. Nguyen Van, L., Nguyen Quang, D., Herrmann, L., Enez, A., Brau, L., Nguyen Van, C., Katz, M., Lesueur, D. (2025). Restoring soil health from long-term intensive Robusta coffee cultivation in Vietnam: a review. Agronomy for Sustainable Development 45: 31. doi.org/10.1007/s13593-025-01023-4
  3. Covre, A.M., Rodrigues, W.P., Vieira, H.D., Braun, H., Ramalho, J.C., Partelli, F.L. (2016). Nutrient accumulation in bean and fruit from irrigated and non-irrigated Coffea canephora cv. Conilon. Emirates Journal of Food and Agriculture 28(6): 402–409. doi.org/10.9755/ejfa.2016-04-341
  4. Kath, J., Byrareddy, V.M., Reardon-Smith, K., Mushtaq, S. (2023). Early flowering changes robusta coffee yield responses to climate stress and management. Science of the Total Environment 856: 158836. doi.org/10.1016/j.scitotenv.2022.158836
  5. Tiemann, T., Aye, T.M., Dung, N.D., Tien, T.M., Fisher, M., de Paulo, E.N., Oberthür, T. (2018). Crop nutrition for Vietnamese Robusta coffee. Better Crops with Plant Food 102(3): 20–23. IPNI. doi.org/10.24047/BC102320
  6. Amarasinghe, U.A., Hoanh, C.T., D'haeze, D., Hung, T.Q. (2015). Toward sustainable coffee production in Vietnam: More coffee with less water. Agricultural Systems 136: 96–105. IWMI. doi.org/10.1016/j.agsy.2015.02.008
  7. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (12/05/2017). Giới thiệu kết quả nghiên cứu về bón phân theo độ phì đất và năng suất cà phê. wasi.org.vn
  8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2016). Quyết định 2085/QĐ-BNN-TT ban hành Quy trình tái canh cà phê vối. Bản đăng lại trên trang UBND xã Vụ Bổn, Đắk Lắk. vubon.daklak.gov.vn
  9. Cục Trồng trọt (2013). Quyết định 273/QĐ-TT-CCN, Quy trình tái canh cây cà phê vối. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. khuyennongvn.gov.vn
  10. Cục Trồng trọt (2010). Quyết định 254/QĐ-TT-CCN, Quy trình tái canh cà phê vối. Bản đăng lại của Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam. vicofa.org.vn
  11. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (2020). Quyết định 81/QĐ-VNLT ban hành Quy trình tái canh cà phê vối theo hướng cơ giới hóa. wasi.org.vn (PDF)
  12. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (2018). Kỹ thuật sản xuất cà phê vối bền vững và tái canh cà phê vối. globalcoffeeplatform.org (PDF)

Câu Hỏi Thường Gặp

Cà phê thu hoạch xong có cần bón phân ngay không?

Quy trình của Bộ Nông nghiệp cho cà phê vối kinh doanh không có lần bón ngay sau thu hoạch. Lần bón đầu tiên trong năm là giữa mùa khô, kết hợp đợt tưới hai, bón phân SA; phân chỉ bón khi đất đủ ẩm.

Mỗi tấn cà phê nhân lấy đi bao nhiêu phân?

Theo ước tính cho vườn cà phê vối Việt Nam, khoảng 33 kg đạm, 1 kg P₂O₅ và 30 kg K₂O mỗi tấn. Tài liệu quốc tế ghi khoảng 33–63 kg N, 2–11 kg P₂O₅ và 47–67 kg K₂O.

Một hecta cà phê vối bón bao nhiêu phân một năm?

Trên đất bazan năng suất 3 tấn/ha, WASI khuyến cáo khoảng 220–250 kg N, 80–100 kg P₂O₅ và 200–230 kg K₂O; mỗi tấn vượt thêm bón thêm 70 kg N, 20 kg P₂O₅, 70 kg K₂O. Đất khác 2–2,5 tấn/ha: 200–230 kg N, 100–130 kg P₂O₅, 180–200 kg K₂O.

Vỏ cà phê sau thu hoạch dùng làm gì?

Ủ hoai với phân chuồng và nấm đối kháng để bón lại hoặc tủ gốc. Theo số liệu đo ở Brazil, vỏ giữ khoảng 7 kg đạm và 9 kg kali cho mỗi tấn cà phê nhân; đốt hay bán vỏ là đưa phần dinh dưỡng đó ra khỏi vườn.

Phân chuồng bón cho cà phê vào lúc nào?

Vào đầu hoặc giữa mùa mưa, bón theo rãnh, 10–15 kg phân chuồng hoai mỗi cây, 1–2 năm một lần; hoặc 2–3 kg phân hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh mỗi cây mỗi năm.

Đội Chuyên Môn Quốc Việt Agri

Bà con cần hỏi thêm?

Chụp ảnh lá, gốc cây và kết quả phân tích đất rồi gửi qua Zalo, đội ngũ Quốc Việt Agri xem và chia sẻ thông tin cùng bà con.

Nhắn Zalo · 096 994 2349

Phản hồi sớm nhất sau khi đội ngũ Quốc Việt Agri nhận tin · 6:00–20:00

Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Cà phê thu hoạch xong có cần bón phân ngay không?

Quy trình của Bộ Nông nghiệp cho cà phê vối kinh doanh không có lần bón ngay sau thu hoạch. Lần bón đầu tiên trong năm là giữa mùa khô, kết hợp đợt tưới hai, bón phân SA; phân chỉ bón khi đất đủ ẩm.

Mỗi tấn cà phê nhân lấy đi bao nhiêu phân?

Theo ước tính cho vườn cà phê vối Việt Nam, khoảng 33 kg đạm, 1 kg P₂O₅ và 30 kg K₂O mỗi tấn. Tài liệu quốc tế ghi khoảng 33–63 kg N, 2–11 kg P₂O₅ và 47–67 kg K₂O.

Một hecta cà phê vối bón bao nhiêu phân một năm?

Trên đất bazan năng suất 3 tấn/ha, WASI khuyến cáo khoảng 220–250 kg N, 80–100 kg P₂O₅ và 200–230 kg K₂O; mỗi tấn vượt thêm bón thêm 70 kg N, 20 kg P₂O₅, 70 kg K₂O. Đất khác 2–2,5 tấn/ha: 200–230 kg N, 100–130 kg P₂O₅, 180–200 kg K₂O.

Vỏ cà phê sau thu hoạch dùng làm gì?

Ủ hoai với phân chuồng và nấm đối kháng để bón lại hoặc tủ gốc. Theo số liệu đo ở Brazil, vỏ giữ khoảng 7 kg đạm và 9 kg kali cho mỗi tấn cà phê nhân; đốt hay bán vỏ là đưa phần dinh dưỡng đó ra khỏi vườn.

Phân chuồng bón cho cà phê vào lúc nào?

Vào đầu hoặc giữa mùa mưa, bón theo rãnh, 10–15 kg phân chuồng hoai mỗi cây, 1–2 năm một lần; hoặc 2–3 kg phân hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh mỗi cây mỗi năm.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog