Phân Bón Amino Là Gì? Axit Amin Giúp Cây Thế Nào Và Cách Dùng Đúng
Phân bón amino là phân bón có chứa axit amin, những viên gạch nhỏ nhất tạo nên protein, thường lấy từ việc thủy phân đạm cá, đạm động vật hoặc thực vật. Theo Nghị định 84/2019/NĐ-CP, phân bón chứa axit amin thuộc nhóm phân bón sinh học, và như mọi phân bón, phải có Quyết định công nhận lưu hành mới được bán tại Việt Nam.
Amino giúp cây rõ nhất ở vai trò chất kích thích sinh học: hỗ trợ cây hồi sức sau thu hoạch, sau hạn, mặn, và hấp thu dinh dưỡng tốt hơn. Lượng đạm trong một chai amino nhỏ, nên amino đi kèm phân NPK chứ không thay được NPK. Amino là phân bón, không phải thuốc trị sâu bệnh.
Axit Amin Được Tìm Ra Như Thế Nào
Năm 1806, ở Paris, hai nhà hóa học người Pháp Louis Nicolas Vauquelin và Pierre Jean Robiquet cô đặc nước ép măng tây và thu được một loại tinh thể chưa ai biết. Họ đặt tên nó theo cây măng tây: asparagine. Đó là axit amin đầu tiên con người tách ra được, dù lúc ấy chưa ai biết nó là gì.
Về sau, các nhà hóa học hiểu rằng protein của mọi sinh vật, từ thịt cá tới lá cây, đều là những chuỗi dài nối từ khoảng hai mươi loại axit amin. Nhưng một câu hỏi khác còn mở lâu hơn: cây có "ăn" được axit amin trực tiếp không, hay chỉ ăn được đạm khoáng như urê, nitrat, amoni?
Ở vườn Việt Nam, câu hỏi đó có giá trị bằng tiền. Sau mỗi vụ sầu riêng, sau đợt hạn mặn hay ngập úng, rất nhiều nhà vườn phun một chai amino với mong muốn cây "lại sức". Muốn chai amino đó đáng tiền, cần biết nó làm được gì, và không làm được gì.
Phân Bón Amino Là Gì?
Axit amin là những phân tử nhỏ chứa đạm (nitơ). Hai mươi loại axit amin nối với nhau theo những trật tự khác nhau thành mọi protein, gồm cả các enzym điều khiển quang hợp và tạo rễ trong cây. Cây tự tạo axit amin từ đạm khoáng hút qua rễ, nhưng việc đó tốn năng lượng và vật liệu.
Hình dung nước mắm: cá được ủ lâu, protein trong thịt cá bị cắt nhỏ dần, và vị đạm của nước mắm phần lớn đến từ chính các axit amin được giải phóng. Phân bón amino làm theo cùng nguyên lý, gọi là thủy phân protein: đạm cá, da, lông, đậu nành hoặc rong biển được cắt nhỏ thành axit amin và các đoạn ngắn (peptide), rồi pha thành dung dịch phun lá hoặc tưới gốc.
- Về pháp lý: Nghị định 84/2019/NĐ-CP, Điều 3 khoản 3, xếp phân bón có chứa axit humic, axit fulvic, axit amin, vitamin vào nhóm phân bón sinh học; khoản 5 định nghĩa phân bón lá là phân bón cung cấp dinh dưỡng cho cây qua thân, lá.
- Được bán khi nào: Luật Trồng trọt 2018, Điều 36, quy định phân bón là hàng hóa kinh doanh có điều kiện và phải được cấp Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam. Theo Nghị định 84/2019, Quyết định này có thời hạn 5 năm.
- Không phải thuốc bảo vệ thực vật: phân bón amino không được công nhận để trừ sâu, trị bệnh. Khi cây vàng lá, thối rễ do nấm hay bị sâu hại, cần xác định nguyên nhân trước rồi mới chọn sản phẩm.
Vì vậy, khi ai đó hỏi "amino là thuốc gì", câu trả lời chính xác là: amino không phải thuốc, mà là một nhóm phân bón. Câu hỏi đáng hỏi hơn là cây hấp thu nó ra sao.
Cây Hấp Thu Axit Amin Như Thế Nào?
Suốt thế kỷ 20, sách giáo khoa dạy rằng cây chỉ hút đạm ở dạng khoáng: nitrat và amoni. Đạm hữu cơ trong đất phải được vi sinh vật phân giải thành đạm khoáng trước, cây mới dùng được.
Năm 1998, các nhà khoa học của Đại học Khoa học Nông nghiệp Thụy Điển công bố trên tạp chí Nature một thí nghiệm ngoài thực địa trong rừng lá kim phương Bắc. Họ bơm vào lớp mùn một lượng nhỏ glycine, axit amin đơn giản nhất, được đánh dấu bằng đồng vị cacbon-13 và nitơ-15, rồi đo tỉ lệ hai đồng vị trong rễ cây. Kết quả: ít nhất 91% lượng đạm từ glycine mà cây bụi việt quất hút vào, 64% ở cỏ và 42% ở cây thông, vân sam, đi vào rễ dưới dạng glycine nguyên vẹn. Tốc độ hút glycine tương đương tốc độ hút amoni.
Đây là bước ngoặt: rễ cây có thể lấy axit amin trực tiếp, không cần chờ vi sinh vật phân giải. Nhưng nó mở ra một câu hỏi khó hơn. Năm 2009, cũng nhóm nghiên cứu ở Thụy Điển cùng Đại học Alaska Fairbanks (Hoa Kỳ) tổng hợp lại trên tạp chí New Phytologist: khả năng hút đạm hữu cơ của cây đã được chứng minh rõ, nhưng chưa có bằng chứng trực tiếp cho thấy nguồn này đóng góp phần lớn vào dinh dưỡng đạm của cây. Nói cách khác, cây hút được axit amin, nhưng hút được không có nghĩa là no.
Vì Sao Một Chai Amino Không Thay Được Phân NPK
Lấy đúng số liệu trên nhãn một chai amino đậm đặc để tính. Chai AMINO 4.0 APN 500 ml ghi: axit amin 40%, chất hữu cơ 14,7%, đạm tổng số (Nts) 5,6%, tỷ trọng 1,2.
- Khối lượng chai: 500 ml × 1,2 = 600 g dung dịch.
- Axit amin trong chai: 600 g × 40% = 240 g.
- Đạm trong chai: 600 g × 5,6% ≈ 34 g nitơ.
- So với một bao urê 50 kg (urê chứa 46% đạm): khoảng 23 kg nitơ, tức bằng lượng đạm của gần 700 chai amino như trên.
Con số này giải thích vì sao chính trang sản phẩm AMINO 4.0 ghi rõ "không thay thế một công thức NPK hoàn chỉnh", và trang PROFERT PN14 cũng trả lời "không" cho câu hỏi có thay được phân gốc hay không. Với cây đang nuôi trái, đạm, lân, kali, canxi, magie và vi lượng vẫn phải đến chủ yếu từ chương trình phân bón nền.
Nếu lượng đạm nhỏ như vậy, vì sao nhiều thí nghiệm vẫn ghi nhận cây phản ứng với amino? Câu trả lời nằm ở việc axit amin làm việc như một tín hiệu và chất hỗ trợ, không phải như một bao phân.
Cách Axit Amin Giúp Cây: Chất Kích Thích Sinh Học
Năm 2015, Đại học Liège (Bỉ) công bố trên tạp chí Scientia Horticulturae một định nghĩa được dùng rộng rãi: chất kích thích sinh học là chất hoặc vi sinh vật bón cho cây nhằm tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng, tăng khả năng chịu stress phi sinh học (hạn, mặn, nóng) và/hoặc cải thiện chất lượng nông sản, bất kể hàm lượng dinh dưỡng của nó. Bài báo cũng vạch ranh giới giữa nhóm này với phân bón thông thường và thuốc bảo vệ thực vật.
Năm 2017, các nhà khoa học của Đại học Tuscia, Đại học Naples Federico II, Hội đồng Nghiên cứu Nông nghiệp Ý (CREA) và Đại học Purdue (Hoa Kỳ) tổng hợp trên tạp chí Frontiers in Plant Science những gì đã biết về dịch thủy phân protein:
- Tác động trực tiếp: kích thích quá trình chuyển hóa cacbon và đạm trong cây, và tác động tới hoạt động của hoóc-môn.
- Tác động gián tiếp: làm dinh dưỡng trong giá thể dễ lấy hơn, tăng lượng và hiệu quả hấp thu dinh dưỡng.
- Khi gặp stress: giảm bớt tác hại của mặn, hạn và kim loại nặng.
- Vùng rễ: axit amin là nguồn thức ăn cho vi sinh vật sống quanh rễ; đã có nghiên cứu ghi nhận hệ vi sinh vật thay đổi sau khi bón.
Axit amin vào lá hoặc rễ → Tín hiệu chuyển hóa đạm, cacbon → Cây hút và dùng dinh dưỡng hiệu quả hơn → Hồi sức nhanh hơn sau stress
Cũng nhóm tác giả này viết rằng cần thêm nghiên cứu để làm rõ cơ chế, công thức và cách bón phù hợp. Đây là điểm quan trọng khi đặt kỳ vọng.
Năm 2022, Đại học Ghent (Bỉ) công bố trên tạp chí Frontiers in Plant Science phân tích gộp 180 nghiên cứu ngoài đồng ruộng về chất kích thích sinh học không chứa vi sinh vật. Năng suất tăng thêm trung bình 17,9%; nhóm dịch thủy phân protein nằm cùng nhóm chitosan, humic, rong biển với mức 14,8–17,1%. Bón vào đất cho mức tăng 28,8%, cao hơn phun lá và xử lý hạt (khoảng 17%). Hiệu quả cao hơn trên đất nghèo hữu cơ, đất cát, đất mặn và đất thiếu dinh dưỡng.
Tuy nhiên, chính các tác giả cho rằng con số trung bình có thể cao hơn thực tế khi dùng sản phẩm thương mại: sản phẩm thương mại trong nghiên cứu chỉ tăng 14,4%, và các nhà nghiên cứu thường công bố kết quả thành công nhiều hơn. Kết quả cũng dao động lớn giữa các thí nghiệm.
Vì vậy, nhà vườn nên xem amino như một phần cộng thêm có cơ sở khoa học, hiệu quả rõ nhất khi cây đang gặp khó, chứ không phải chai nào phun lên cũng ra năng suất.
Khi Nào Nên Dùng Phân Bón Amino
Từ cơ chế trên, thời điểm dùng gần như tự suy ra được: axit amin có ích nhất khi cây cần hồi sức hoặc đang tiêu tốn nhiều năng lượng, và nền dinh dưỡng đã đủ.
- Sau thu hoạch: cây suy, cần ra cơi đọt mới. Đây là giai đoạn mà nhãn PROFERT PN14, AMINO 4.0 và Amino Rong Biển cùng ghi.
- Trước và sau đợt stress: hạn, mặn, nắng nóng, sau ngập. Đây là nhóm stress mà nghiên cứu năm 2017 ghi nhận dịch thủy phân protein giúp giảm tác hại.
- Cây con, mới trồng: nhãn PROFERT PN14 hướng dẫn phun cho cây con trong vườn ươm, rau màu sau trồng 7–10 ngày.
- Ra hoa, nuôi trái: amino đi kèm, còn dinh dưỡng chính cho đậu trái là bo và canxi (xem Canxi Bo là gì), cho nuôi trái là kali.
Amino không giải quyết được những vấn đề có nguyên nhân khác: thiếu đạm, lân, kali nặng (cần bón phân nền); vàng lá do thiếu sắt, magie, kẽm (xem vàng lá do thiếu vi lượng); thối rễ do nấm, tuyến trùng hay sâu bệnh (cần thuốc bảo vệ thực vật đúng đối tượng); đất phèn, pH thấp (cần đo pH và bón vôi). Trang AMINO 4.0 ghi rõ sản phẩm không trung hòa đất phèn và không tự nâng pH đất.
Phun Lá Hay Tưới Gốc Amino?
Phun lá cho phản ứng nhanh, nhưng lá không phải là cửa vào dễ dàng. Năm 2013, Đại học Bách khoa Madrid (Tây Ban Nha) và Đại học California, Davis (Hoa Kỳ) tổng hợp trên tạp chí Frontiers in Plant Science: hiệu quả phân bón lá thường dao động, vì dung dịch phải vượt qua lớp sáp, lớp cutin trên mặt lá rồi còn phải được vận chuyển tới đúng bộ phận cần.
- Phun lá: phun lúc sáng sớm hoặc chiều mát (nhãn các sản phẩm đều ghi), khi lá khô và không sắp mưa, phun ướt đều hai mặt lá. Phù hợp khi rễ đang yếu hoặc cần phản ứng nhanh.
- Tưới gốc: phân tích gộp năm 2022 ghi nhận bón vào đất cho mức tăng năng suất cao hơn phun lá khoảng 10 điểm phần trăm. Phù hợp khi rễ còn hoạt động, đất đủ thoáng, và tận dụng được phần axit amin nuôi vi sinh vật vùng rễ.
- Kết hợp: AMINO 4.0, Amino Rong Biển và Đạm Cá Amino đều ghi trên nhãn là dùng được cả phun lá và tưới gốc.
Một lưu ý khi pha chung: nhãn PROFERT PN14 ghi không pha chung với thuốc gốc đồng, vì axit amin có thể kết hợp với ion đồng tạo kết tủa. Với hỗn hợp khác, pha thử một lượng nhỏ trong chai nhựa trong; nếu thấy vẩn đục, tách lớp, tạo gel thì phun riêng.
Đọc Nhãn Phân Bón Amino: Chai Nào Chứa Bao Nhiêu Axit Amin?
Chữ "amino" trên tên sản phẩm chưa cho biết chai đó chứa bao nhiêu axit amin. Muốn biết, hãy đọc dòng thành phần trên nhãn: có chai ghi axit amin là chỉ tiêu chính kèm phần trăm, có chai là phân bo, kẽm hay NPK có bổ sung axit amin.

| Sản phẩm | Thành phần theo nhãn | Vai trò chính |
|---|---|---|
| AMINO 4.0 APN | Axit amin 40%; chất hữu cơ 14,7%; Nts 5,6%; pH 5,9; tỷ trọng 1,2. Sản xuất tại Thổ Nhĩ Kỳ. | Amino đậm đặc |
| PROFERT PN14 | Axit amin 37% (19 loại, dạng axit amin và peptide); chất hữu cơ 30%; Nts 8%; Ca 0,14%. Sản xuất tại Ý. | Amino đậm đặc |
| Amino Rong Biển | Chất hữu cơ 30%; tỷ lệ C/N 11; phụ gia rong biển, 18 loại axit amin, vitamin B1, vi lượng chelate. | Hữu cơ, phục hồi |
| Đạm Cá Amino (can 5 lít) | Nts 10%; P₂O₅hh 8%; K₂Ohh 6%; Cu 500 ppm, Zn 400 ppm, Mn 300 ppm, Mo 50 ppm, B 100 ppm; dịch đạm cá lên men. | NPK từ đạm cá |
| Amino Nuôi Trái | Thành phần đăng ký: Bo 2.000 ppm; phụ gia: axit amin, dịch rong biển, vi lượng. | Nuôi trái |
| Mg-Zn Amino+ | Mg 1%; Zn 7.500 ppm; B 2.000 ppm; Mo 30 ppm; vitamin C 50 ppm; bổ sung 18 loại axit amin. | Vi lượng xanh lá |
| Bo Amino Plus | Bo (B) 50.000 ppm; tỷ trọng 1,15. | Bo cho ra hoa, đậu trái |
Bảng này không xếp hạng sản phẩm, mà giúp chọn đúng chai cho đúng việc: cần amino đậm đặc để cây hồi sức thì nhìn dòng axit amin; cần bo cho giai đoạn ra hoa thì nhìn dòng bo.
Amino Plus Là Thuốc Gì?
Nhiều người tìm "amino plus là thuốc gì". Trên thị trường có nhiều sản phẩm mang tên gần giống nhau. Riêng Bo Amino Plus tại Quốc Việt Agri là phân bón vi lượng bo: nhãn ghi Bo 50.000 ppm, liều 25–40 ml cho bình 16–25 lít, phun từ trước ra hoa tới trước thu hoạch 7 ngày với cây ăn quả. Bo cần cho hạt phấn nảy mầm và ống phấn dài ra, nên đây là chai dành cho giai đoạn ra hoa, đậu trái, không phải chai amino để hồi sức.
Amino Rong Biển Có Tác Dụng Gì?
Amino Rong Biển là phân bón hữu cơ với chất hữu cơ 30%, có thêm dịch rong biển, axit amin và vitamin B1. Nhãn ghi công dụng: xanh cây, mượt lá, hỗ trợ tái tạo bộ rễ sau các đợt ngập, hạn, phèn, mặn. Cách dùng theo nhãn: 1 chai 500 ml pha cho 400 lít nước, phun lá hoặc tưới gốc, 7–10 ngày một lần.
Đạm Cá Amino Khác Amino Đậm Đặc Thế Nào?
Đạm Cá Amino là phân bón lá NPK 10-8-6 kèm vi lượng, làm từ dịch đạm cá lên men, nên vừa có axit amin vừa có đạm, lân, kali. Nó gần với một phân bón nền dạng lỏng hơn là một chai kích thích sinh học. Xem thêm bài về đạm cá.
Amino Cho Sầu Riêng, Cây Ăn Trái, Lúa Và Rau Màu
Các sản phẩm amino tại Quốc Việt Agri ghi trên nhãn dùng cho cây ăn trái, cây công nghiệp, lúa, rau màu và hoa. Với sầu riêng, hai thời điểm trùng với hướng dẫn trên nhãn là sau thu hoạch (hồi sức, ra cơi đọt) và giai đoạn nuôi trái; giai đoạn ra hoa, xổ nhụy cần bo và canxi trước tiên (xem sầu riêng giai đoạn xổ nhụy).
Với những cây trồng, giai đoạn hay cách dùng chưa ghi trên nhãn sản phẩm, vui lòng liên hệ đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo 096 994 2349 để được chia sẻ thêm.
Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Phân Bón Amino
- Dùng linh hoạt: phần lớn sản phẩm ghi trên nhãn là dùng được cả phun lá và tưới gốc, liều thấp, dễ đưa vào lịch phun sẵn có.
- Hỗ trợ cây khi gặp stress: nghiên cứu ở Ý và Hoa Kỳ (2017) ghi nhận dịch thủy phân protein giảm tác hại của mặn, hạn.
- Cây hút được trực tiếp: thí nghiệm ở Thụy Điển (1998) cho thấy rễ hút được axit amin nguyên vẹn, không cần chờ phân giải.
- Nuôi vi sinh vật vùng rễ khi tưới gốc, theo cùng tổng hợp năm 2017.
- Lượng đạm nhỏ: một chai 500 ml chỉ chứa vài chục gam đạm. Cách khắc phục: giữ chương trình NPK nền theo giai đoạn cây, xem amino là phần cộng thêm.
- Hiệu quả dao động theo vườn: phân tích gộp năm 2022 ghi nhận kết quả khác nhau nhiều giữa các thí nghiệm. Cách khắc phục: phun thử trên vài cây, để lại một hàng không phun làm đối chứng, ghi ngày phun và quan sát cơi đọt, màu lá sau 2–3 tuần.
- Không trị sâu bệnh: vàng lá, rụng lá có thể do nấm, tuyến trùng hay úng rễ. Cách khắc phục: xác định nguyên nhân trước, gửi ảnh cho đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo nếu chưa chắc, rồi dùng thuốc bảo vệ thực vật đúng đối tượng khi cần.
- Tên sản phẩm không cho biết hàm lượng: Cách khắc phục: đọc dòng thành phần trên nhãn, chọn theo chỉ tiêu chính.
- Dễ phản ứng khi pha chung: axit amin có thể kết hợp với đồng. Cách khắc phục: không pha chung với thuốc gốc đồng, pha thử lượng nhỏ trước với các sản phẩm khác.
Cách Sử Dụng Phân Bón Amino Hiệu Quả
Bảng Tra Nhanh: Liều Dùng Theo Nhãn
| Sản phẩm | Liều theo nhãn | Cách dùng, chu kỳ |
|---|---|---|
| AMINO 4.0 APN | 1 ml/lít nước (1 lít cho 1.000 lít nước) | Phun lá hoặc tưới gốc; 20 ngày/lần |
| PROFERT PN14 | Bình 16 lít: hoa, rau màu 20–40 ml; lúa, bắp 40–60 ml; cây ăn quả, cây công nghiệp 40–80 ml | Phun lá; cây con, đẻ nhánh, nuôi trái, sau thu hoạch |
| Amino Rong Biển | 500 ml cho 400 lít nước | Phun lá hoặc tưới gốc; 7–10 ngày/lần |
| Đạm Cá Amino | Bình 16 lít: cây ăn trái 20 ml; rau màu, hoa 10–15 ml | Phun lá hoặc tưới gốc; 5–7 ngày/lần |
| Amino Nuôi Trái | Phuy 200 lít: 250 ml (cây ăn trái); bình 20 lít: 15–20 ml (rau màu, lúa) | Phun lá; 5–7 ngày/lần từ sau đậu trái |
| Mg-Zn Amino+ | Bình 25 lít: cây ăn trái 25–30 ml; lúa, bắp 15–20 ml; rau, hoa 10–15 ml | Phun lá; 7–15 ngày/lần |
| Bo Amino Plus | 25–40 ml cho bình 16–25 lít | Phun lá; từ trước ra hoa tới trước thu hoạch 7 ngày |
Đối chiếu nhãn chai trước khi pha; liều có thể thay đổi theo lô sản xuất.
Phân Bón Amino Tại Quốc Việt Agri
Phân bón amino an toàn nếu dùng đúng: mang găng tay, khẩu trang khi pha; bảo quản nơi khô mát, đậy kín nắp, xa tầm tay trẻ em và thức ăn chăn nuôi; lắc đều chai trước khi đong.
Kết Luận
Hơn hai trăm năm trước, tinh thể đầu tiên trong nhóm axit amin được tách ra từ nước ép măng tây. Ngày nay cùng loại phân tử đó nằm trong chai amino nhà vườn mang ra vườn sau mỗi vụ. Khoa học đã trả lời được câu hỏi năm 1806 còn bỏ ngỏ: rễ cây hút được axit amin, và axit amin giúp cây chuyển hóa dinh dưỡng, chống chịu hạn mặn tốt hơn.
Nhưng một chai amino không phải một bao phân. Đọc dòng thành phần trên nhãn, giữ nền NPK, dùng đúng lúc cây cần hồi sức và để một hàng đối chứng. Làm được vậy, chai amino sẽ cho thấy đúng giá trị của nó trên chính vườn nhà mình.
Chưa rõ vườn nhà mình đang thiếu gì, hay chưa biết chai amino nào hợp với giai đoạn của cây? Gửi ảnh lá, đọt, rễ và nhãn phân đang dùng cho đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo, chúng tôi trả lời theo nhãn sản phẩm và cây trồng của vườn nhà mình.
Zalo 096 994 2349Nguồn Tham Khảo
- Vauquelin L.N., Robiquet P.J. La découverte d'un nouveau principe végétal dans le suc des asperges. Annales de Chimie 1806;57:88–93.
- Näsholm T., Ekblad A., Nordin A., Giesler R., Högberg M., Högberg P. Boreal forest plants take up organic nitrogen. Nature 1998;392:914–916. doi:10.1038/31921
- Näsholm T., Kielland K., Ganeteg U. Uptake of organic nitrogen by plants. New Phytologist 2009;182(1):31–48. doi:10.1111/j.1469-8137.2008.02751.x
- du Jardin P. Plant biostimulants: Definition, concept, main categories and regulation. Scientia Horticulturae 2015;196:3–14. doi:10.1016/j.scienta.2015.09.021
- Colla G., Hoagland L., Ruzzi M., Cardarelli M., Bonini P., Canaguier R., Rouphael Y. Biostimulant action of protein hydrolysates: unraveling their effects on plant physiology and microbiome. Frontiers in Plant Science 2017;8:2202. doi:10.3389/fpls.2017.02202
- Li J., Van Gerrewey T., Geelen D. A meta-analysis of biostimulant yield effectiveness in field trials. Frontiers in Plant Science 2022;13:836702. doi:10.3389/fpls.2022.836702
- Fernández V., Brown P.H. From plant surface to plant metabolism: the uncertain fate of foliar-applied nutrients. Frontiers in Plant Science 2013;4:289. doi:10.3389/fpls.2013.00289
- Quốc hội. Luật Trồng trọt số 31/2018/QH14, Điều 36.
- Chính phủ. Nghị định 84/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 quy định về quản lý phân bón, Điều 3 và Điều 5.
- Nhãn và thông tin sản phẩm: AMINO 4.0 APN, PROFERT PN14, Amino Rong Biển, Đạm Cá Amino, Amino Nuôi Trái, Mg-Zn Amino+, Bo Amino Plus.