Atrazine Là Gì? Mizin, Metrimex, Nitrazin Trừ Cỏ Bắp, Mía Thế Nào
Ba tuần sau khi phun một lượt thuốc lên mặt ruộng vừa tỉa bắp, ruộng có một cảnh lạ: hàng bắp đứng xanh, còn dền gai, rau sam mọc giữa hàng thì vàng mép lá rồi lụi dần. Rễ bắp và rễ cỏ nằm trong cùng một lớp đất, hút cùng một thứ nước có thuốc. Vậy vì sao cây này sống, cây kia chết? Và vì sao có ruộng, vụ đậu trồng ngay sau vụ bắp lại lên vàng, còi, dù chẳng ai phun gì lên đậu?
Atrazine là hoạt chất trừ cỏ chọn lọc nhóm HRAC 5, được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 75/2025/TT-BNNMT); các sản phẩm đăng ký trừ cỏ chủ yếu trên ngô và mía. Thuốc ngấm vào cỏ chủ yếu qua rễ và chặn quang hợp; bắp, mía chịu được thuốc (vì sao thì xem ngay bên dưới).
Diệt cỏ nào: cỏ lá rộng như dền gai, rau sam, cỏ hôi, cây xấu hổ, và cỏ lá hẹp mọc từ hạt như mần trầu, cỏ chỉ, đuôi phụng khi cỏ chưa mọc hoặc mới 1–3 lá. Phun lúc nào: ngay sau khi gieo, tỉa hạt bắp hoặc trồng mía, lúc đất còn ẩm. Cỏ đã lớn, cỏ tranh, cỏ gấu có thân ngầm thì atrazine không phải thuốc chính.
Cây khác và vụ sau: đậu, dưa leo, cà chua, khoai mì rất mẫn cảm; giữ thuốc trong ruộng mình và hỏi trước khi trồng các cây này trên đất vừa phun.
VALORA 46SC, MIZIN 80WP, NITRAZIN 800WP và METRIMEX 80WP đều chứa atrazine; liều từng loại ở mục sản phẩm cuối bài.
Lời giải cho hai câu hỏi trên được ghép dần trong ba mươi năm, từ một phòng thí nghiệm ở Thụy Sĩ năm 1952 tới hai phòng thí nghiệm ở Mỹ năm 1970 và 1983. Mỗi mảnh ghép trả lời một việc rất thực trên ruộng: phun lúc nào, vụ sau trồng gì, luân phiên thuốc ra sao.
Atrazine Làm Cỏ Chết Bằng Cách Nào?
Năm 1952, trong phòng thí nghiệm của hãng J.R. Geigy ở Thụy Sĩ, các nhà hóa học tìm ra thuốc trừ cỏ đầu tiên thuộc họ triazine (Elsevier, 2008). Đến năm 1957, một thành viên của họ này được đưa ra thị trường: atrazine (dữ liệu quốc tế PPDB).
Nhiều người nghĩ atrazine giống thuốc cỏ cháy: phun lên lá, lá cháy. Thực tế atrazine làm việc chủ yếu từ dưới đất. Thuốc nằm ở lớp đất mặt; rễ cỏ mầm hút nước thì hút luôn thuốc, rồi thuốc theo dòng nước đi lên lá.
Lên tới lá, atrazine bám vào một protein trong lục lạp và chặn quang hệ II, bước đầu tiên biến ánh sáng thành năng lượng. Giống như cúp cầu dao tổng của căn nhà: trời vẫn nắng, lá vẫn còn xanh vài hôm, nhưng cây không còn tự làm ra thức ăn.
Vì thuốc đi theo dòng nước, lá già nhận thuốc trước. Theo tài liệu nhận diện của Đại học Bang North Carolina (NC State Extension), lá già vàng ở mép và giữa các gân trước, sau đó khô cháy, cây con lụi dần; rễ thì không có triệu chứng. Đó chính là đám dền gai vàng mép lá ở đầu bài. Cỏ mầm ít lá, ít dự trữ nên chết nhanh; cỏ đã lớn khó chết hơn.
Nhưng nếu atrazine theo nước vào mọi cây có rễ, thì rễ bắp cũng hút thuốc như rễ cỏ. Vậy tại sao bắp không chết? Câu hỏi này phải chờ gần 20 năm sau ngày triazine đầu tiên ra đời mới có lời giải.
Vì Sao Bắp, Mía Đứng Xanh Mà Cỏ Chết?
Năm 1970, ba nhà khoa học của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA-ARS), đứng đầu là R.H. Shimabukuro, công bố trên tạp chí Plant Physiology những gì họ đo được trong lá bắp. Atrazine có vào lá bắp, và quang hợp của lá bắp có bị chặn. Nhưng trong lá bắp, thuốc bị gắn rất nhanh với glutathione, một chất có sẵn trong tế bào, và quang hợp hồi phục lại cùng lúc với quá trình gắn đó.
Giống một căn bếp có người dọn liên tục: rác rơi tới đâu dọn tới đó, nên bếp vẫn nấu được.
Bài báo cho biết đây là lần đầu người ta ghi nhận thực vật giải độc một thuốc bảo vệ thực vật bằng glutathione.
Cỏ lá rộng và nhiều cây trồng lá rộng không có tốc độ giải độc đó, nên bị hại như cỏ. Vì vậy đậu, dưa leo, cà chua, khoai mì được xếp vào nhóm cây mẫn cảm: phun gần thì thuốc bay sang làm cháy lá, trồng xen trong ruộng bắp thì cây xen bị hại, trồng sau trên đất còn thuốc thì cây con vàng, còi. Mía cũng được đăng ký atrazine tại Việt Nam và chịu được thuốc ở liều đăng ký.
Nửa đầu câu đố đã có lời giải. Nửa sau, vụ đậu vàng còi, nằm ở chuyện thuốc ở lại trong đất bao lâu. Nhưng trước hết là chuyện diệt cỏ nào và phun lúc nào.
Atrazine Diệt Cỏ Nào, Không Diệt Cỏ Nào?
Cỏ càng non, càng ít dự trữ thì càng dễ chết khi quang hợp bị chặn:
| Nhóm cỏ | Ví dụ | Atrazine |
|---|---|---|
| Cỏ lá rộng mọc từ hạt | Dền gai, rau sam, cỏ hôi, cây xấu hổ | Diệt tốt khi cỏ chưa mọc hoặc còn nhỏ |
| Cỏ lá hẹp mọc từ hạt | Mần trầu, cỏ chỉ, đuôi phụng | Diệt được khi cỏ mới 1–3 lá |
| Cỏ đã lớn, cỏ có thân ngầm, củ | Cỏ tranh, cỏ gấu, cỏ chỉ đã thành bụi lâu năm | Không phải thuốc chính |
Ruộng có cỏ lâu năm cần thuốc khác nhóm; xem cách chọn ở bài Thuốc Diệt Cỏ Nào? Chọn Theo Loại Cỏ Và Cơ Chế.
Phun Atrazine Lúc Nào Để Có Hiệu Quả?
Hiểu mấy điều trên thì biết ngay cách phun. Thuốc vào qua rễ, nên lớp thuốc phải nằm sẵn ở mặt đất khi cỏ nảy mầm. Rễ hút nước mới hút thuốc, nên đất phải ẩm. Cỏ mầm ít dự trữ, nên phun càng sớm càng dễ diệt.
Những Lỗi Hay Gặp
- Chờ cỏ lớn mới phun rồi tăng liều: cỏ lớn khó chết, còn lượng thuốc dư ở lại trong đất lâu hơn và dễ hại cây vụ sau.
- Phun lên đất khô nẻ: thuốc nằm yên trên mặt đất, cỏ mọc sau cơn mưa đầu tiên vẫn lên.
- Phun ruộng bắp có trồng xen đậu, bí: cây xen sẽ bị hại; ruộng trồng xen cần cách làm cỏ khác, hỏi trước qua Zalo.
Lớp thuốc nằm ở mặt đất nhiều tuần là điểm mạnh của atrazine, và cũng là nửa sau của câu đố.
Atrazine Tồn Lưu Trong Đất Bao Lâu, Có Hại Cây Vụ Sau Không?
Theo dữ liệu quốc tế (PPDB), sau khoảng 1 tháng (đo ngoài đồng: 29 ngày) tới 2,5 tháng (giá trị điển hình: 75 ngày), lượng atrazine trong đất mới giảm còn một nửa, tùy đất và thời tiết. Phần còn lại đó chính là lời giải cho vụ đậu vàng còi ở đầu bài.
Còn dấu vết thì ở lại lâu hơn nhiều. Ở Trung tâm Nghiên cứu Jülich (Đức), các nhà khoa học theo dõi một ô đất ngoài trời từng được phun atrazine đánh dấu phóng xạ với liều thông thường 1,7 kg mỗi hecta. Kết quả công bố năm 2009 trên tạp chí Environmental Pollution: 22 năm sau lần phun cuối, lớp đất mặt vẫn còn atrazine ở mức vết, khoảng 1 microgam mỗi kg đất, phần lớn còn lại đã ở dạng phân giải (hydroxyatrazine). Con số rất nhỏ, nhưng cho thấy thuốc bền hơn nhiều người nghĩ.
- Đất kiềm (pH cao), khô hạn, lạnh: thuốc phân hủy chậm hơn. Khuyến nông Đại học Bang Iowa (Iowa State Extension) cho rằng atrazine (cùng chlorimuron) có lẽ là nhóm có nguy cơ tồn lưu sang vụ sau cao nhất, nhất là trên đất có pH cao.
- Cây vụ sau mẫn cảm: đậu, dưa leo, cà chua, khoai mì. Bắp, mía trồng lại thì chịu được.
- Giảm nguy cơ: phun đúng liều, đúng một lần đầu vụ, không phun chồng, không phun atrazine vào cuối vụ trước khi luân canh. Nếu vụ sau định trồng đậu hay rau trên đất vừa phun, gửi thông tin ruộng qua Zalo 096 994 2349 để được hướng dẫn trước khi gieo.
Một hoạt chất bền như vậy, dùng trên cùng những cánh đồng bắp năm này qua năm khác, sớm muộn sẽ gặp một câu hỏi khác: cỏ có thích nghi được không?
Vì Sao Có Cỏ Kháng Atrazine, Luân Phiên Thế Nào Cho Đúng?
Năm 1983, ở Đại học Bang Michigan (Mỹ), hai nhà khoa học Joseph Hirschberg và Lee McIntosh tìm ra vì sao có những cây dền sống sót. Họ so sánh cây dền (Amaranthus hybridus) kháng triazine với cây dền bình thường và công bố trên tạp chí Science: một protein nhỏ trong lục lạp, đúng chỗ atrazine bám vào, ở cây kháng chỉ khác bản bình thường đúng một axit amin.
Cây dền kháng không giải độc như bắp. Chỗ thuốc bám vào trên protein của nó đổi hình đi một chút, giống ổ khóa bị đổi một răng: chìa cũ tra vào không còn khớp. Một thay đổi nhỏ như vậy đủ làm thuốc bám kém đi.
- Dùng mãi một nhóm thuốc: những cây cỏ mang sẵn thay đổi này sống sót, rơi hạt và chiếm dần ruộng.
- Đổi sang thuốc cùng nhóm: ametryn, simazine, diuron bám vào đúng chỗ đó như atrazine (cùng nhóm HRAC 5), nên đổi qua lại không làm chậm cỏ kháng.
Cách giữ atrazine hiệu quả lâu là ghép với thuốc khác nhóm:
| Hoạt chất (nhóm HRAC) | Dùng với atrazine |
|---|---|
| Ametryn, simazine, diuron (nhóm 5, cùng nhóm) | Không tính là luân phiên |
| Mesotrione (nhóm 27) | Hay phối sẵn với atrazine trong một chai, phun hậu nảy mầm sớm trên bắp |
| S-metolachlor, acetochlor (nhóm 15) | Diệt mầm cỏ lá hẹp đầu vụ, bổ sung cho atrazine vốn trừ cỏ lá rộng tốt |
Nhóm HRAC theo bảng phân loại HRAC 2024. Vì sao mesotrione và atrazine hay đi cùng nhau: xem bài Mesotrione Là Hoạt Chất Gì?; cách chọn thuốc diệt mầm theo cây trồng: Thuốc Diệt Mầm Là Gì?.
Lịch Gợi Ý Cho Ruộng Bắp
- Sau gieo, cỏ chưa mọc: atrazine (HRAC 5), có thể ghép S-metolachlor hoặc acetochlor (HRAC 15) khi ruộng nhiều mần trầu, cỏ chỉ.
- Cỏ mới 1–3 lá, bắp còn nhỏ: chai phối atrazine với mesotrione (HRAC 5 và 27).
- Cỏ sót sắp ra hạt: nhổ hoặc làm cỏ tay, không để cỏ rơi hạt cho vụ sau.
Lịch Gợi Ý Cho Ruộng Mía
- Sau trồng mía tơ hoặc sau khi đốn mía gốc: atrazine hoặc atrazine phối ametryn (đều HRAC 5) khi cỏ chưa mọc hoặc còn nhỏ.
- Vụ sau hoặc lần xử lý tiếp theo: chuyển sang thuốc diệt mầm nhóm HRAC 15 (acetochlor, S-metolachlor đăng ký trên mía), không thay atrazine bằng diuron.
Còn một câu hỏi cuối. Atrazine tan được trong nước. Phần thuốc không ở lại trong đất thì đi đâu, và vì sao mỗi nước quản lý nó một kiểu?
An Toàn Khi Dùng Atrazine: Người, Nguồn Nước, Cây Bên Cạnh
Cũng theo PPDB, atrazine độc mức trung bình với người nếu nuốt phải và với cá, độc thấp với ong. Nhưng thuốc rất độc với rong, bèo và tảo, vì những cây sống trong nước này cũng quang hợp như cỏ, nên cũng bị chặn quang hợp như cỏ. Thuốc tan được trong nước nên có thể theo nước mưa ra mương, ao. Vì vậy:
- Mang găng tay, khẩu trang, kính và áo dài tay khi pha, phun; tắm rửa, thay đồ sau khi phun.
- Không phun sát ao, mương, giếng; không rửa bình, đổ thuốc thừa xuống nguồn nước.
- Không cho người và vật nuôi vào ruộng vừa phun ít nhất 24 giờ.
- Cất gói thuốc kín, nơi khô mát, xa trẻ em, thức ăn và vật nuôi.
Hoa Kỳ vẫn cho phép atrazine trên bắp, cao lương, mía và đặt giới hạn trong nước uống là 0,003 mg/lít (EPA); năm 2024 cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) đặt mức lo ngại cho thực vật thủy sinh là 9,7 microgam/lít và cuối năm đó đề xuất thêm các biện pháp giảm thuốc trôi theo nước. Liên minh châu Âu thì không gia hạn atrazine từ năm 2004: đây là quyết định riêng của EU, vì dữ liệu quan trắc khi đó không chứng minh được nước ngầm trên diện rộng sẽ luôn dưới ngưỡng 0,1 microgam/lít mà EU áp cho mọi thuốc bảo vệ thực vật. Tại Việt Nam, atrazine nằm trong Danh mục được phép sử dụng (Thông tư 75/2025/TT-BNNMT). Giữ thuốc trong ruộng, xa nguồn nước, là cách dùng đúng ở nước nào cũng vậy.
Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Atrazine
- Một lần phun giữ sạch cỏ mầm nhiều tuần: thuốc lưu ở lớp đất mặt, chặn cỏ nhú lên trong giai đoạn cây bắp, mía non yếu nhất.
- Phun được trên ruộng bắp, mía đang trồng: hai cây này giải độc được thuốc.
- Phổ rộng với cỏ lá rộng: dền gai, rau sam, cỏ hôi; ghép thêm nhóm khác là phủ được cả cỏ lá hẹp.
- Kém trên cỏ đã lớn và cỏ lâu năm. Cách khắc phục: phun sớm ngay sau gieo; cỏ tranh, cỏ gấu dùng nhóm thuốc khác, nhắn Zalo để được tư vấn.
- Cần đất ẩm. Cách khắc phục: tưới ẩm trước khi phun hoặc phun sau mưa.
- Tồn lưu sang vụ sau. Cách khắc phục: đúng liều, một lần đầu vụ, hỏi trước khi luân canh cây mẫn cảm.
- Dễ theo nước ra mương, ao. Cách khắc phục: không phun sát nguồn nước, không phun ngay trước mưa to.
Tìm Hiểu Sâu: Dòng Thời Gian Nghiên Cứu Atrazine
Bắp Còn Một Hướng Giải Độc Thứ Hai
Nghiên cứu năm 1970 còn thấy một chi tiết ít người biết: khi thuốc vào từ đất qua rễ, bắp còn phân giải atrazine theo một hướng khác, tạo hydroxyatrazine, và hướng này góp phần đáng kể. Hydroxyatrazine cũng là dạng chiếm phần lớn lượng thuốc còn lại trong ô đất ở Jülich sau 22 năm.
Những Con Số Về Atrazine Trong Đất Và Nước
- Độ tan trong nước 35 mg/lít, chỉ số GUS 2,57 (PPDB): mức trung gian về khả năng thấm xuống nước ngầm.
- Bèo tấm (Lemna): nồng độ 0,019 mg/lít đã làm giảm một nửa sinh trưởng (PPDB).
- 89 loài cỏ kháng nhóm chặn quang hệ II trên thế giới, gồm 53 loài lá rộng và 36 loài lá hẹp (weedscience.org, đọc 16/10/2026).
Giờ nhìn lại cảnh ở đầu bài, hàng bắp xanh giữa đám dền gai vàng lá. Trong từng lá bắp, glutathione đang gắn và dọn atrazine; dền gai không dọn kịp nên tắt quang hợp. Còn vụ đậu vàng còi là phần thuốc còn ở lại trong đất. Phun sớm khi đất ẩm, đúng liều, một lần đầu vụ, ghép với nhóm khác và tính trước cho cây vụ sau, thì hoạt chất gần 70 tuổi này vẫn giữ ruộng bắp, ruộng mía sạch cỏ đúng những tuần cây cần nhất.
Sản Phẩm Chứa Atrazine Tại Quốc Việt Agri
Bốn sản phẩm dưới đây đều có atrazine, nên cách phun sớm, đất ẩm và lưu ý cây vụ sau ở trên dùng chung. Khác nhau ở hoạt chất đi kèm và cây trồng được đăng ký.
Đăng Ký Sử Dụng Chính Thức
| Sản phẩm | Hoạt chất · cây đăng ký |
|---|---|
| VALORA 46SC | Atrazine 40% + mesotrione 6% · ngô |
| METRIMEX 80WP | Atrazine 40% + ametryn 40% · mía |
| MIZIN 80WP | Atrazine 80% · mía, ngô |
| NITRAZIN 800WP | Atrazine 80% · ngô |
Theo Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, sửa đổi bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT.
VALORA 46SC Pha Bao Nhiêu?
VALORA 46SC (tên mới của Misung 45SC): atrazine 40% + mesotrione 6%, đăng ký trừ cỏ trên bắp. Về lượng pha, vui lòng liên hệ đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo 096 994 2349 để được chia sẻ thêm.
MIZIN 80WP Pha Bao Nhiêu?
| Cây trồng | Bình 25 lít | Mỗi ha |
|---|---|---|
| Bắp (ngô) | Pha 80–100 g | 1–2 kg/ha |
| Mía | Pha 170–250 g | 3–5 kg/ha |
Lượng pha tính cho bình 25 lít, không phải bình 16 lít. Liều in trên nhãn gói MIZIN 80WP. Bắp phun ngay sau khi tỉa hạt, khi cỏ chưa mọc hoặc còn nhỏ; mía phun sau khi đất ẩm, cỏ chưa mọc.
METRIMEX 80WP Pha Bao Nhiêu?
| Ruộng mía | Bình 16 lít | Mỗi ha |
|---|---|---|
| Mía tơ | 50 g | 3,0 kg/ha |
| Mía gốc | 50–75 g | 3,0–6,0 kg/ha |
Lượng nước phun 400–500 lít/ha, theo nhãn gói METRIMEX 80WP.
NITRAZIN 800WP Pha Bao Nhiêu?
| Cây trồng | Bình 16 lít |
|---|---|
| Bắp (ngô) | Pha 75–100 g, phun 400 lít nước/ha |
Phun sau khi gieo hạt, nên phun khi cỏ có 1–3 lá; ảnh mặt sau gói NITRAZIN 800WP.
- Hoạt chất: atrazine 40% + mesotrione 6% (SC)
- Cây đăng ký: ngô (bắp)
- Hợp khi: ruộng bắp cần một chai phối sẵn atrazine với mesotrione
- Hoạt chất: atrazine 40% + ametryn 40% (WP)
- Cây đăng ký: mía
- Hợp khi: ruộng mía tơ, mía gốc cần thuốc mầm phổ rộng
- Hoạt chất: atrazine 80% (WP)
- Cây đăng ký: mía, ngô
- Hợp khi: cần một gói dùng được cho cả ruộng bắp và ruộng mía
- Hoạt chất: atrazine 80% (WP)
- Cây đăng ký: ngô
- Hợp khi: ruộng bắp dùng bình 16 lít
Gợi Ý Sử Dụng Thêm
Mỗi sản phẩm dùng trên cây đã đăng ký ở bảng trên. Ruộng trồng xen, đất kiềm hay định luân canh cây khác thì liều gợi ý còn tùy hoàn cảnh; nhắn Zalo để được chia sẻ thêm.
Sản Phẩm Theo Từng Bước Luân Phiên
- Diệt mầm cỏ lá hẹp đầu vụ (HRAC 15): DUAL GOLD 960EC (S-metolachlor; đăng ký ngô, mía và nhiều cây khác) hoặc ANTACO 500EC (acetochlor; ngô, mía, lạc, sắn, hành).
- Không dùng để luân phiên với atrazine: ANSARON 80WP (diuron) cùng nhóm HRAC 5; đổi qua lại không làm chậm cỏ kháng.
Mỗi sản phẩm dùng đúng cây trồng đăng ký và liều trên trang sản phẩm.
Nguồn Tham Khảo
- Shimabukuro R.H., Swanson H.R., Walsh W.C. (USDA Agricultural Research Service). Glutathione conjugation: atrazine detoxication mechanism in corn. Plant Physiology 1970;46(1):103–107. doi.org
- Hirschberg J., McIntosh L. (Michigan State University). Molecular basis of herbicide resistance in Amaranthus hybridus. Science 1983;222(4630):1346–1349. doi.org
- Jablonowski N.D., Köppchen S., Hofmann D., Schäffer A., Burauel P. (Forschungszentrum Jülich; RWTH Aachen). Persistence of 14C-labeled atrazine and its residues in a field lysimeter soil after 22 years. Environmental Pollution 2009;157:2126–2131. doi.org
- LeBaron H.M., McFarland J.E., Burnside O.C. The triazine herbicides: a milestone in the development of weed control technology. Trong: The Triazine Herbicides – 50 Years Revolutionizing Agriculture, Elsevier 2008, chương 1 (các tác giả gắn với ngành công nghiệp). booksite.elsevier.com
- Neal J., Goodale D., Jennings K., Mitchem W. (NC State Extension). Photosystem II inhibitors – Triazine herbicides, Herbicide Injury Factsheets (2015, xem lại 2025). content.ces.ncsu.edu
- Hartzler B. (Iowa State University Extension and Outreach). Herbicide carryover concerns for 2020. Integrated Crop Management, 02/06/2020. crops.extension.iastate.edu
- University of Hertfordshire. PPDB: Pesticide Properties DataBase, Atrazine (Report 43), đọc 16/10/2026. sitem.herts.ac.uk
- Heap I. International Herbicide-Resistant Weed Database, tổng hợp theo cơ chế (PSII inhibitors – Serine 264 binders), đọc 16/10/2026. www.weedscience.org
- HRAC. 2024 HRAC Global Herbicide MOA Classification (nhóm 5). hracglobal.com
- U.S. EPA. Atrazine: registration review, CE-LOC 9,7 µg/L (07/2024). www.epa.gov
- U.S. EPA. National Primary Drinking Water Regulations: atrazine MCL 0,003 mg/L. www.epa.gov
- European Commission. Decision 2004/248/EC concerning the non-inclusion of atrazine in Annex I to Council Directive 91/414/EEC (10/03/2004). eur-lex.europa.eu
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, Phụ lục I, mục atrazine và các hỗn hợp, sửa đổi bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT.
- Hướng dẫn sử dụng in trên gói MIZIN 80WP, METRIMEX 80WP, NITRAZIN 800WP (ảnh sản phẩm, Quốc Việt Agri).
Cần tư vấn?
Chưa chắc ruộng nhà mình nên dùng atrazine lúc nào, hay vụ sau định trồng đậu, dưa, mì trên đất vừa phun? Chụp ảnh ruộng và vài bụi cỏ, ghi cây trồng, ngày gieo và cây định trồng vụ sau, gửi đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo. Chúng tôi tư vấn đúng thuốc, đúng thời điểm cho ruộng nhà mình.
Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM