Chlorantraniliprole là gì – sâu tơ non ăn lá cải

Chlorantraniliprole Là Gì? Thuốc Trừ Sâu Diamide Từ Một Loài Cây Nam Mỹ

Chlorantraniliprole (IRAC 28, diamide) giữ kênh canxi thụ thể ryanodine của côn trùng ở trạng thái mở: sâu co cơ, tê liệt, ngừng ăn rất nhanh. Tên thụ thể đến từ ryanodine của cây Ryania speciosa. Độ chọn lọc cao với côn trùng. Có trong Virtako 40WG, Voliam Targo 063SC; cyantraniliprole trong Minecto Star 60WG. Kháng chéo giữa các diamide; dùng theo cửa sổ một lứa sâu, luân phiên nhóm IRAC khác.

Trả lời nhanh

Chlorantraniliprole là hoạt chất trừ sâu nhóm diamide, mã IRAC 28. Hoạt chất tác động lên thụ thể ryanodine, kênh giải phóng canxi trong tế bào cơ của côn trùng, làm cơ co liên tục, sâu tê liệt và ngừng ăn rất nhanh. Diamide đặc biệt hiệu quả với sâu miệng nhai thuộc bộ cánh vảy như sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu keo mùa thu, sâu tơ.

Tên của thụ thể này đến từ ryanodine, một chất trừ sâu tự nhiên chiết từ cây Ryania speciosa ở Nam Mỹ. Chlorantraniliprole có trong VIRTAKO 40WG và VOLIAM TARGO 063SC; người anh em cyantraniliprole có trong MINECTO STAR 60WG. Các diamide có kháng chéo với nhau, nên luân phiên phải sang nhóm IRAC khác.

Một Loài Cây Nam Mỹ Và Chất Trừ Sâu Của Nó

Đầu những năm 1940, các nhà khoa học của công ty Merck và Đại học Rutgers (Mỹ) sàng lọc thực vật để tìm chất trừ sâu tự nhiên. Một loài cây ở Nam Mỹ, Ryania speciosa, cho kết quả nổi bật: chiết xuất từ cây có hoạt tính trừ sâu rõ rệt.

Năm 1948, nhóm của Rogers và Folkers tại Merck công bố trên tạp chí Journal of the American Chemical Society việc tách được hoạt chất chính, đặt tên là ryanodine. Họ tìm ra nó bằng cách lần theo hoạt tính trừ sâu qua từng bước chiết tách. Bột ryania được bán làm thuốc trừ sâu từ thập niên 1940 và dùng trong canh tác hữu cơ, trước khi rút khỏi thị trường Mỹ năm 1997.

Ryanodine không trở thành thuốc trừ sâu lớn. Nhưng nó để lại một thứ quan trọng hơn: một cái tên. Và cái tên đó dẫn tới nhóm thuốc trừ sâu đang được dùng trên ruộng lúa, ruộng ngô và vườn rau ở Việt Nam hôm nay.

Thụ Thể Ryanodine: Công Tắc Canxi Của Cơ Bắp

Mỗi lần cơ co, tế bào cơ cần giải phóng canxi từ một kho chứa bên trong tế bào (lưới cơ tương). Cánh cửa của kho chứa này là một kênh protein. Ryanodine gắn vào kênh đó rất chặt, chặt đến mức các nhà sinh học dùng nó để "đánh dấu" và tách kênh này ra khỏi tế bào lần đầu tiên. Vì vậy kênh được đặt tên là thụ thể ryanodine (ryanodine receptor, viết tắt RyR).

Khi ryanodine gắn vào, kênh bị giữ ở trạng thái mở một phần, canxi tràn ra liên tục, cơ co không kiểm soát được rồi tê liệt. Có thể hình dung như công tắc đèn bị kẹt ở vị trí bật: đèn sáng mãi, đến khi hệ thống không còn hoạt động bình thường.

Người và động vật có vú cũng có thụ thể ryanodine trong cơ. Vậy làm sao một chất tác động lên thụ thể này lại dùng được làm thuốc trừ sâu trên đồng ruộng? Câu trả lời đến hơn nửa thế kỷ sau.

Từ Ryanodine Đến Nhóm Diamide



1948
Rogers, Folkers và cộng sự tại Merck công bố tách được ryanodine từ Ryania speciosa.


2005
Nihon Nohyaku và Bayer CropScience công bố flubendiamide tại hội nghị lần thứ 230 của Hiệp hội Hóa học Mỹ: chất đầu tiên của nhóm phthalic diamide, hoạt hóa thụ thể ryanodine của côn trùng. Cùng thời gian, DuPont phát triển nhóm anthranilic diamide, trong đó có chlorantraniliprole.


2007
Flubendiamide được thương mại hóa, mở đầu nhóm diamide trên thị trường.

Sau đó
Cyantraniliprole, anthranilic diamide thế hệ sau, lưu dẫn trong mạch gỗ và có phổ rộng hơn, gồm cả một số côn trùng chích hút.

IRAC (Ủy ban Hành động Chống Kháng thuốc Trừ sâu) xếp tất cả các hoạt chất này vào nhóm 28: chất điều biến thụ thể ryanodine. Diamide không phải là ryanodine được làm lại. Chúng là những phân tử hoàn toàn khác, nhưng tác động lên cùng một kênh canxi.

Diamide Phân Biệt Côn Trùng Với Người Như Thế Nào

Điểm khác biệt lớn nhất giữa diamide và ryanodine là độ chọn lọc. Thụ thể ryanodine của côn trùng và của động vật có vú có cấu trúc khác nhau ở vùng gắn thuốc.

Theo tổng hợp của Richardson và cộng sự (2021) trên tạp chí International Journal of Molecular Sciences, chlorantraniliprole yếu hơn khoảng 300 lần trên thụ thể cơ xương của chuột và yếu hơn trên 2.000 lần trên thụ thể cơ tim của chuột cống so với trên thụ thể của côn trùng. Flubendiamide có độ chọn lọc trên 500 lần.

Cùng một công tắc canxi, nhưng ổ khóa của côn trùng và của người khác nhau: diamide được thiết kế để vừa với ổ khóa của côn trùng.

Độ chọn lọc cao là lý do diamide được dùng rộng rãi trong chương trình quản lý dịch hại tổng hợp. Dù vậy, sản phẩm thương mại thường phối diamide với hoạt chất khác, nên mức độ an toàn với người, ong và cá phải đọc theo nhãn của từng sản phẩm, không suy từ một hoạt chất.

Sâu Vẫn Còn Trên Lá Có Phải Là Thuốc Chưa Có Tác Dụng?

Sau khi phun diamide, nhiều người thấy sâu chưa rơi xuống ngay và nghĩ thuốc yếu. Với nhóm này, dấu hiệu cần nhìn là sâu ngừng ăn, không phải sâu rơi ngay.

Hannig và cộng sự (2009) trên tạp chí Pest Management Science đo tốc độ ngừng ăn ở ấu trùng của bốn loài sâu thuộc bộ cánh vảy, trong đó có sâu tơ (Plutella xylostella) và sâu xanh da láng (Spodoptera exigua). Kết quả: chlorantraniliprole thuộc nhóm thuốc làm sâu ngừng ăn nhanh nhất, tương đương methomyl, lambda-cyhalothrin và esfenvalerate, nhanh hơn phần lớn các hoạt chất mới khác được so sánh.

Cơ chế giải thích điều này: cơ miệng và cơ thân của sâu co cứng nên sâu không ăn tiếp được, dù cơ thể chưa rơi khỏi lá. Từ lúc sâu ngừng ăn, lá và trái đã được bảo vệ. Đánh giá hiệu quả nên dựa vào vết hại mới sau phun 1–3 ngày, không dựa vào số sâu nằm trên lá ngay sau khi phun.

Sâu keo mùa thu nằm trên lá ngô bị ăn thủng nhiều lỗ
Sâu keo mùa thu (Spodoptera frugiperda) trên lá ngô. Sâu miệng nhai thuộc bộ cánh vảy là nhóm đối tượng chính của thuốc diamide; VOLIAM TARGO 063SC được đăng ký cho sâu keo mùa thu trên ngô.

Ba Sản Phẩm Diamide, Ba Cách Phối Hợp

Diamide mạnh nhất với sâu miệng nhai. Để mở rộng phổ sang rầy, nhện hay bọ trĩ, các sản phẩm thương mại phối diamide với một hoạt chất thuộc nhóm IRAC khác:

Sản phẩm Thành phần Nhóm IRAC Đăng ký tại Việt Nam (theo Danh mục)
VIRTAKO 40WG Chlorantraniliprole 200 g/kg + thiamethoxam 200 g/kg 28 + 4A Sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu/lúa; sâu đục thân, rầy lưng trắng, rệp/ngô
VOLIAM TARGO 063SC Chlorantraniliprole 45 g/L + abamectin 18 g/L 28 + 6 Sâu cuốn lá, nhện gié, sâu đục thân/lúa; sâu keo mùa thu/ngô; ruồi đục lá/khoai tây
MINECTO STAR 60WG Cyantraniliprole 100 g/kg + pymetrozine 500 g/kg 28 + 9B Sâu đục thân, sâu cuốn lá, rầy nâu/lúa; bọ trĩ/ớt, dưa hấu, bưởi, hoa hồng; bọ phấn/dưa chuột; rầy bông/xoài
Lúa: sâu và rầy
VIRTAKO 40WG – Gói 4,5g
Sản phẩm của Syngenta. Chlorantraniliprole cho sâu cuốn lá, sâu đục thân, phối thiamethoxam cho rầy nâu. Phù hợp khi ruộng lúa có sâu và rầy cùng lúc. Một gói 4,5 g pha cho bình 25 lít, cách ly 7 ngày theo nhãn.
Xem sản phẩm →
VOLIAM TARGO 063SC – Chai 250ml
Sản phẩm của Syngenta. Chlorantraniliprole phối abamectin, thêm tác dụng trên nhện gié và sâu ẩn trong nõn. Đăng ký cho sâu keo mùa thu trên ngô và ruồi đục lá trên khoai tây.
Xem sản phẩm →
MINECTO STAR 60WG – Gói 25g
Sản phẩm của Syngenta. Cyantraniliprole phối pymetrozine, phổ rộng trên lúa, rau màu và cây ăn trái: sâu miệng nhai và côn trùng chích hút như rầy, bọ trĩ, bọ phấn.
Xem sản phẩm →

Diamide Có Bị Kháng Không?

Có, và trường hợp được nghiên cứu kỹ nhất là sâu tơ trên rau họ cải. Troczka và cộng sự (2012) trên tạp chí Insect Biochemistry and Molecular Biology ghi nhận các quần thể sâu tơ từ Philippines và Thái Lan kháng trên 200 lần với cả chlorantraniliprole lẫn flubendiamide so với quần thể mẫn cảm.

Nguyên nhân là một đột biến trên chính thụ thể ryanodine, gọi là G4946E, nằm ngay vùng gắn thuốc. Đáng chú ý, hai quần thể ở hai quốc gia khác nhau đã tự hình thành cùng một đột biến. Richardson và cộng sự (2021) liệt kê thêm các đột biến khác trên sâu tơ (I4790M/K, Y4701C/D) và các dạng đột biến kháng ở sâu đục thân lúa (Chilo suppressalis).

Đổi tên thuốc chưa chắc đã đổi cơ chế

Quần thể sâu tơ trong nghiên cứu trên kháng cả hai diamide, dù chúng thuộc hai họ hóa học khác nhau. Lý do: cả hai cùng gắn vào thụ thể ryanodine. Vì vậy chuyển từ VIRTAKO sang VOLIAM TARGO hay MINECTO STAR vẫn là dùng tiếp nhóm 28, không phải luân phiên.

Luân phiên đúng là chuyển sang nhóm IRAC khác cho sâu miệng nhai, ví dụ emamectin (nhóm 6), spinetoram (nhóm 5), chlorfenapyr (nhóm 13) hoặc isocycloseram (nhóm 30). Xem thêm bản đồ nhóm IRAC.

Hướng dẫn quản lý kháng diamide của IRAC đề xuất cách dùng theo "cửa sổ": trong một cửa sổ bằng khoảng một lứa sâu, có thể dùng nhóm 28; lứa sâu tiếp theo chuyển sang nhóm khác. Tổng thời gian các cửa sổ dùng nhóm 28 không vượt quá 50% chu kỳ cây trồng, và chỉ mở một cửa sổ nhóm 28 mới sau khi đã dùng ít nhất một thuốc hiệu quả thuộc nhóm khác.

Cách Dùng Thuốc Diamide Hiệu Quả

Từ cơ chế, tốc độ tác động và nguy cơ kháng ở trên, cách dùng có thể suy ra từng bước:

01
Xác định đúng đối tượng
Diamide mạnh nhất với sâu miệng nhai bộ cánh vảy: sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu keo mùa thu, sâu tơ, sâu xanh. Với rầy, rệp, bọ trĩ, chọn sản phẩm phối hợp có hoạt chất cho nhóm chích hút. Xem sâu cuốn lá và sâu đục thân lúa.
02
Phun khi sâu còn nhỏ
Nhãn VIRTAKO và MINECTO STAR hướng dẫn phun khi sâu non tuổi 1–2. Sâu nhỏ ăn ít, chưa chui sâu vào bẹ, thân hay trái, nên thuốc dễ tiếp cận hơn.
03
Đánh giá bằng vết hại mới
Sâu ngừng ăn nhanh nhưng chưa chắc rơi ngay. Kiểm tra lá non, đọt non sau phun 1–3 ngày: không có vết ăn mới là thuốc đang làm việc.
04
Dùng theo cửa sổ một lứa sâu
Không phun nhóm 28 cho hai lứa sâu liên tiếp. Ghi lại tên sản phẩm và nhóm IRAC sau mỗi lần phun để lần sau chọn nhóm khác.
05
Đúng liều, đủ nước
Liều, lượng nước và thời gian cách ly theo nhãn từng sản phẩm; với lúa, nhãn VIRTAKO và MINECTO STAR ghi lượng nước 400–500 lít/ha. Liều thấp hơn khuyến cáo tạo điều kiện cho cá thể mang đột biến kháng sống sót.
06
Bảo vệ ong và nguồn nước
Các hoạt chất phối hợp như thiamethoxam và abamectin có độc tính với ong và sinh vật thủy sinh. Không phun khi cây đang ra hoa có ong hoạt động, không rửa bình gần ao, kênh.

Bảng Tra Nhanh

Mục Nội dung
Nhóm hoạt chất Diamide: chlorantraniliprole, cyantraniliprole (anthranilic diamide); flubendiamide (phthalic diamide)
Nhóm IRAC 28: chất điều biến thụ thể ryanodine
Cơ chế Giữ kênh canxi RyR ở trạng thái mở, cơ co liên tục, sâu tê liệt và ngừng ăn
Nguồn gốc tên gọi Ryanodine, chất trừ sâu tự nhiên từ cây Ryania speciosa (Rogers và cộng sự, 1948)
Độ chọn lọc Chlorantraniliprole yếu hơn ~300 lần trên RyR cơ xương chuột, >2.000 lần trên RyR cơ tim chuột cống
Đối tượng chính Sâu miệng nhai bộ cánh vảy; cyantraniliprole có thêm tác dụng trên một số côn trùng chích hút
Kháng thuốc Sâu tơ (Philippines, Thái Lan; đột biến G4946E, >200 lần); sâu đục thân lúa có đột biến kháng
Kháng chéo Có, giữa tất cả hoạt chất nhóm 28
Luân phiên Cửa sổ một lứa sâu; tổng thời gian dùng nhóm 28 ≤ 50% chu kỳ cây trồng

Kết Luận

Từ một loài cây ở Nam Mỹ, ryanodine đã đặt tên cho công tắc canxi trong cơ của mọi loài động vật. Hơn nửa thế kỷ sau, các nhà hóa học thiết kế được những phân tử tác động lên công tắc đó ở côn trùng mà ít ảnh hưởng tới động vật có vú, và nhóm diamide ra đời. Sức mạnh của nhóm này nằm ở chỗ chỉ có một đích tác động; đó cũng là lý do phải giữ nó cẩn thận: phun khi sâu còn nhỏ, đánh giá bằng vết hại mới, và luân phiên sang nhóm IRAC khác sau mỗi lứa sâu.

Zalo: 096 994 2349

Nguồn Tham Khảo

  • Rogers E.F., Koniuszy F.R., Shavel J., Folkers K. (1948). Plant insecticides. I. Ryanodine, a new alkaloid from Ryania speciosa Vahl. Journal of the American Chemical Society 70(9):3086–3088.
  • U.S. EPA (1999). Reregistration Eligibility Decision (RED) Fact Sheet: Ryanodine.
  • Richardson E., Troczka B.J., Gutbrod O., Ebbinghaus-Kintscher U., Williamson M.S., George C.H., Nauen R., Davies T.G.E. (2021). Chimeric investigations into the diamide binding site on the lepidopteran ryanodine receptor. International Journal of Molecular Sciences 22(23):13033.
  • Hannig G.T., Ziegler M., Marçon P.G. (2009). Feeding cessation effects of chlorantraniliprole, a new anthranilic diamide insecticide, in comparison with several insecticides in distinct chemical classes and mode-of-action groups. Pest Management Science 65(9):969–974.
  • Troczka B., Zimmer C.T., Elias J., Schorn C., Bass C., Davies T.G.E., Field L.M., Williamson M.S., Slater R., Nauen R. (2012). Resistance to diamide insecticides in diamondback moth, Plutella xylostella, is associated with a mutation in the membrane-spanning domain of the ryanodine receptor. Insect Biochemistry and Molecular Biology 42:873–880.
  • Alı I.H., Yükselbaba U. (2025). Plant Protection Science 61(2):191–200 (tổng hợp về tính lưu dẫn mạch gỗ và phổ tác động của cyantraniliprole).
  • American Chemical Society (2005). Thông cáo về flubendiamide của Nihon Nohyaku và Bayer CropScience tại hội nghị ACS lần thứ 230.
  • IRAC. Diamide Global IRM Guidelines; IRAC Mode of Action Classification: nhóm 28.
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Chlorantraniliprole là thuốc gì, thuộc nhóm nào?

Chlorantraniliprole là hoạt chất trừ sâu nhóm anthranilic diamide, được IRAC xếp vào nhóm 28 (chất điều biến thụ thể ryanodine). Hoạt chất giữ kênh giải phóng canxi trong cơ côn trùng ở trạng thái mở, làm cơ co liên tục, sâu tê liệt và ngừng ăn.

Chlorantraniliprole trị sâu gì?

Hiệu quả nhất với sâu miệng nhai thuộc bộ cánh vảy: sâu cuốn lá, sâu đục thân lúa, sâu keo mùa thu, sâu tơ, sâu xanh. Các sản phẩm thương mại thường phối thêm hoạt chất khác để trừ rầy, nhện hoặc bọ trĩ. Đối chiếu cây trồng và đối tượng đăng ký trên nhãn từng sản phẩm.

Vì sao phun xong sâu vẫn còn trên lá?

Diamide làm cơ của sâu co cứng nên sâu ngừng ăn rất nhanh, nhưng chưa chắc rơi khỏi lá ngay. Một nghiên cứu trên tạp chí Pest Management Science xếp chlorantraniliprole vào nhóm thuốc làm sâu ngừng ăn nhanh nhất. Nên đánh giá hiệu quả bằng vết hại mới trên lá non sau 1–3 ngày.

Virtako, Voliam Targo và Minecto Star khác nhau thế nào?

VIRTAKO 40WG là chlorantraniliprole phối thiamethoxam (thêm tác dụng trên rầy). VOLIAM TARGO 063SC là chlorantraniliprole phối abamectin (thêm tác dụng trên nhện gié, sâu ẩn trong nõn). MINECTO STAR 60WG là cyantraniliprole phối pymetrozine (thêm tác dụng trên rầy, bọ trĩ, bọ phấn). Cả ba cùng chứa một diamide nhóm IRAC 28.

Sau khi dùng Virtako nên luân phiên thuốc gì?

Không luân phiên bằng một sản phẩm diamide khác vì các diamide kháng chéo với nhau. Lứa sâu tiếp theo nên chọn hoạt chất thuộc nhóm IRAC khác cho sâu miệng nhai, như emamectin (nhóm 6), spinetoram (nhóm 5), chlorfenapyr (nhóm 13) hoặc isocycloseram (nhóm 30), và dùng đúng liều trên nhãn.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog