Flometoquin 10SC (Gladius) Là Gì? Thuốc Trừ Bọ Trĩ Nhóm IRAC 34
Flometoquin (có trong GLADIUS 10SC, flometoquin 10%) là hoạt chất trừ sâu nhóm phenoxy-quinoline, do Nippon Kayaku và Meiji Seika (Nhật Bản) cùng phát hiện năm 2004, đăng ký lần đầu tại Nhật Bản ngày 30/3/2018. Đây là hoạt chất duy nhất thuộc nhóm IRAC 34.
Chất trong chai chưa phải chất diệt côn trùng. Sau khi vào cơ thể côn trùng, flometoquin được chuyển thành một chất chuyển hóa, và chính chất này chặn quá trình sinh năng lượng trong ty thể. Bọ trĩ trúng thuốc gục nhanh, trong thí nghiệm có loài gục hoàn toàn trong 60 phút.
Tại Việt Nam, GLADIUS 10SC (flometoquin 10%) được đăng ký cho bọ trĩ trên hoa cúc, bọ phấn trắng trên sắn và sâu xanh da láng trên đậu tương. Giới hạn cần biết: không diệt trứng, không lưu dẫn trong cây, rất độc với giáp xác dưới nước.
Năm 2004: Một Phân Tử Có Cấu Trúc Riêng Từ Nhật Bản
Năm 2004, hai công ty Nhật Bản là Nippon Kayaku và Meiji Seika Kaisha cùng nghiên cứu và tìm ra một phân tử có cấu trúc độc đáo: một khung quinoline gắn với nhóm phenoxy. Theo Kobayashi và cộng sự (2023), nhóm tác giả trực tiếp tham gia phát hiện hoạt chất, flometoquin có tác dụng diệt nhanh và mạnh trên nhiều loài bọ trĩ, cả ở giai đoạn ấu trùng lẫn trưởng thành.
Từ lúc phát hiện đến lúc được phép bán mất 14 năm. Đơn đăng ký tại Nhật Bản được phê duyệt ngày 30/3/2018 với tên thương mại Finesave (ファインセーブ), dạng huyền phù 10%. Hồ sơ thẩm định của Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản khi đó ghi rõ: tính đến tháng 3/2018, chưa có quốc gia nào khác đăng ký hoạt chất này.
Khi đem chính phân tử flometoquin đi thử trên enzyme trong ty thể của côn trùng, các nhà khoa học ghi nhận một điều bất ngờ: bản thân flometoquin không có hoạt tính.
Chất Trong Chai Chưa Phải Là Chất Diệt Côn Trùng
Năm 2024, nhóm của Takeuchi, trong đó có một số tác giả của công trình phát hiện hoạt chất, công bố câu trả lời. Flometoquin là một tiền chất: sau khi vào cơ thể côn trùng, phân tử bị cắt bớt một nhóm hóa học và trở thành chất chuyển hóa gọi là FloMet. Chính FloMet mới là chất có hoạt tính, và nó tác động ở nồng độ tính bằng nanomol.
Đích tác động của FloMet nằm trong ty thể, nơi tế bào tạo ra năng lượng. Quá trình này giống một dây chuyền: electron được chuyền qua bốn “trạm” gọi là phức hợp I, II, III, IV, và năng lượng sinh ra dọc đường được dùng để tạo ATP, nguồn năng lượng cho mọi hoạt động của tế bào. FloMet gắn vào phức hợp III, tại một vị trí gọi là Qi. Khi trạm III bị chặn, cả dây chuyền dừng lại và tế bào của côn trùng thiếu năng lượng để hoạt động.
Cách “côn trùng tự kích hoạt thuốc” này không phải trường hợp duy nhất. Chlorfenapyr cũng là một tiền chất và cũng tác động lên quá trình sinh năng lượng trong ty thể, nhưng ở một khâu khác (nhóm IRAC 13). Một điểm các tác giả thừa nhận còn bỏ ngỏ: cơ chế chuyển flometoquin thành FloMet trong cơ thể sâu hại hiện chưa được làm rõ.
Vì Sao Bọ Trĩ Gục Nhanh Hơn Các Loài Khác
Khi đo mức độ chặn phức hợp III của FloMet trên enzyme lấy từ nhiều loài, nhóm Takeuchi ghi nhận khác biệt lớn:
| Loài | Nồng độ FloMet chặn 50% hoạt tính phức hợp III |
|---|---|
| Bọ trĩ hoa Frankliniella occidentalis | 2,9 nM |
| Ruồi nhà | 5,0 nM |
| Sâu tơ Plutella xylostella | 18 nM |
| Ong mật | 298 nM |
Con số càng nhỏ thì loài càng nhạy. Enzyme của bọ trĩ nhạy hơn enzyme của ong mật khoảng 100 lần. Các tác giả gọi đây là tính chọn lọc rõ rệt với sâu hại mục tiêu so với côn trùng có ích.
Tốc độ tác động cũng được đo trực tiếp. Trong thí nghiệm của nhóm phát hiện:
- Bọ trĩ hành Thrips tabaci: gục hoàn toàn trong vòng 60 phút.
- Bọ trĩ hoa F. occidentalis, sau 30 phút: flometoquin làm gục 100% số bọ trĩ, spinosad 26%.
- Sau 180 phút: flometoquin diệt 100% ấu trùng và 81% trưởng thành; tolfenpyrad (nhóm IRAC 21A, cũng tác động lên ty thể) chỉ đạt 30% và 7%.
Với bọ trĩ, tốc độ này có ý nghĩa thực tế: mỗi giờ bọ trĩ còn sống là thêm vết chích trên đọt non, nụ và hoa.
IRAC 34: Nhóm Chỉ Có Một Hoạt Chất
Phức hợp III có hai vị trí gắn khác nhau, gọi là Qo và Qi. Một số thuốc trừ nhện quen thuộc như acequinocyl và bifenazate gắn ở vị trí Qo và được IRAC xếp vào nhóm 20. FloMet gắn ở vị trí Qi. Trong thí nghiệm cạnh tranh, FloMet không đẩy được chất gắn ở vị trí Qo ra khỏi chỗ của nó, trừ một phần ở nồng độ rất cao. Vì khác vị trí gắn, IRAC tách flometoquin thành nhóm riêng: nhóm 34.
Theo Takeuchi và cộng sự (2024), flometoquin là hoạt chất duy nhất trong nhóm 34 cho đến nay. Điều này có hai mặt:
- Mặt thuận lợi: bọ trĩ đã kháng các nhóm thuốc khác chưa từng tiếp xúc với cơ chế này. Một khảo sát năm 2021 của tỉnh Kyoto (Nhật Bản) trên 5 quần thể bọ trĩ hành ngoài đồng ghi nhận Finesave đạt tỷ lệ chết từ 70% trở lên ở cả 5 quần thể, trong khi dinotefuran (nhóm 4A) dưới 50% ở cả 5 quần thể.
- Mặt rủi ro: nếu bọ trĩ kháng flometoquin, hiện chưa có hoạt chất nào khác cùng nhóm để thay thế. Chính khảo sát của Kyoto cũng lưu ý: dùng liên tục có nguy cơ làm hiệu lực giảm.
Hiện chưa tìm thấy nghiên cứu công bố nào thử flometoquin trên các dòng bọ trĩ đã được xác định là kháng spinosyn hay neonicotinoid. Nhà sản xuất cho biết hoạt chất được kỳ vọng có hiệu quả với sâu hại đã giảm mẫn cảm với thuốc hiện có, nhưng không kèm số liệu.
Ứng Dụng Và Giới Hạn Của Flometoquin
- Bọ trĩ ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành, qua tiếp xúc và qua đường ăn; tác động nhanh.
- Bọ phấn trắng: trong thí nghiệm, độ độc với bọ phấn Bemisia tabaci tương đương với bọ trĩ.
- Cơ chế khác hẳn các nhóm thuốc trừ bọ trĩ phổ biến: spinosyn (nhóm 5), avermectin (nhóm 6), neonicotinoid (nhóm 4A), chlorfenapyr (nhóm 13).
- Trứng bọ trĩ: theo Nippon Kayaku, không kỳ vọng hiệu quả trên trứng. Lứa bọ trĩ nở ra sau khi phun vẫn cần được theo dõi.
- Bọ trĩ nằm sâu trong hoa: flometoquin không lưu dẫn trong cây, chỉ diệt được bọ trĩ tiếp xúc với thuốc. Hiệu quả với bọ trĩ trú trong hoa không ổn định.
- Bọ trĩ Frankliniella intonsa: nhà sản xuất ghi nhận hiệu quả kém hơn rõ rệt so với các loài bọ trĩ khác, chưa rõ lý do.
- Sâu lớn tuổi: theo Nippon Kayaku, ở nồng độ sử dụng không kỳ vọng hiệu quả với sâu khoang Spodoptera litura và sâu xanh Helicoverpa. Tại Việt Nam, GLADIUS 10SC được đăng ký cho sâu xanh da láng trên đậu tương, là một loài khác (Spodoptera exigua).
Thiên Địch Và Môi Trường: Hai Bộ Số Liệu Khác Nhau
Về ảnh hưởng lên côn trùng có ích, số liệu của nhà phát triển và số liệu trong hồ sơ thẩm định của cơ quan quản lý Nhật Bản không hoàn toàn giống nhau.
- Số liệu của nhóm phát hiện (Kobayashi và cộng sự, 2023): không ghi nhận ảnh hưởng bất lợi trên 5 loài nhện bắt mồi, bọ xít bắt mồi Nesidiocoris tenuis, nhiều loài ong ký sinh, chuồn chuồn cỏ, ong mật và ong nghệ ở nồng độ thử.
- Hồ sơ thẩm định của Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản (2018), thử bằng cách nhúng côn trùng vào dung dịch hoạt chất trong 5 giây: ấu trùng bọ rùa bảy chấm chết 100% ở nồng độ 10 mg/L; ấu trùng chuồn chuồn cỏ chết 100% ở 100 mg/L; nhện sói Pardosa chết 80% ở 1 mg/L; bọ xít bắt mồi Orius có biểu hiện bất thường từ 1 mg/L.
Phép thử nhúng là cách phơi nhiễm nặng hơn nhiều so với phun ngoài đồng, vì vậy hai bộ số liệu không nhất thiết mâu thuẫn. Nhưng chúng cho thấy không nên xem flometoquin là “an toàn tuyệt đối với thiên địch”. Để so sánh: pha GLADIUS 10SC theo liều 25 ml/bình 20 lít cho nồng độ hoạt chất trên 100 mg/L.
- Giáp xác dưới nước: nồng độ gây ảnh hưởng 50% cho rận nước Daphnia magna sau 48 giờ chỉ 0,23 µg/L, tức khoảng 0,23 phần tỷ. Nhãn tại Nhật Bản cảnh báo sản phẩm có thể ảnh hưởng đến động thực vật thủy sản (giáp xác). Không phun gần ao tôm, ao cá, kênh mương; không rửa bình ở nguồn nước.
- Tằm: hồ sơ thẩm định ghi nhận độc với tằm. Không để thuốc bay sang ruộng dâu.
- Ong: Nippon Kayaku khuyến cáo khoảng thời gian ảnh hưởng đến ong mật và ong nghệ là 1 ngày sau phun. Không phun khi ong đang hoạt động trên cây đang nở hoa.
GLADIUS 10SC Được Đăng Ký Cho Cây Gì Tại Việt Nam?
Theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, có hai sản phẩm chứa flometoquin được phép sử dụng tại Việt Nam:
| Sản phẩm | Cây trồng – dịch hại đăng ký | Tổ chức đăng ký |
|---|---|---|
| GLADIUS 10SC | Bọ trĩ/hoa cúc; bọ phấn trắng/sắn; sâu xanh da láng/đậu tương | Sumitomo Corporation Vietnam LLC |
| QUINAC 10SC | Rầy nâu/lúa; sâu xanh da láng/đậu tương | Công ty TNHH Á Châu Hoá Sinh |
Liều đăng ký của GLADIUS 10SC cho bọ trĩ hại hoa cúc và bọ phấn trắng hại sắn là 0,75 lít/ha, tương đương 25 ml/bình 20 lít. Bọ trĩ cũng gây hại trên nhiều cây khác như sầu riêng, ớt, dưa, xoài, nhưng các cây này hiện không nằm trong đăng ký của GLADIUS 10SC. Với những cây đó, nên chọn sản phẩm được đăng ký cho đúng cây trồng; xem thêm bọ trĩ là gì và cách trị bọ trĩ chống kháng.
Cách Sử Dụng Flometoquin Hiệu Quả
Từ cách flometoquin tác động, có thể suy ra từng bước sử dụng:
Nếu chưa chắc vết hại trên cây là do bọ trĩ, nhện hay bệnh, có thể gửi ảnh đọt, mặt dưới lá và hoa cho đội ngũ Quốc Việt Agri để được xem trước khi chọn thuốc.
GLADIUS 10SC Tại Quốc Việt Agri
Bảng Tra Nhanh
| Mục | Nội dung |
|---|---|
| Hoạt chất | Flometoquin, nhóm phenoxy-quinoline |
| Nhóm IRAC | 34: chặn phức hợp III của ty thể tại vị trí Qi; hoạt chất duy nhất của nhóm |
| Nguồn gốc | Nippon Kayaku và Meiji Seika (Nhật Bản), phát hiện năm 2004, đăng ký đầu tiên 30/3/2018 |
| Dạng hoạt động | Tiền chất: côn trùng chuyển hóa thành FloMet mới có tác dụng |
| Kiểu tác động | Tiếp xúc và qua đường ăn; không lưu dẫn; gục nhanh |
| Sản phẩm tại Việt Nam | GLADIUS 10SC (bọ trĩ/hoa cúc, bọ phấn trắng/sắn, sâu xanh da láng/đậu tương) |
| Liều GLADIUS 10SC | 0,75 lít/ha; 25 ml/bình 20 lít |
| Không diệt | Trứng bọ trĩ; hiệu quả kém với F. intonsa và bọ trĩ trong hoa |
| Lưu ý an toàn | Rất độc với giáp xác dưới nước; độc với tằm; tránh phun khi ong hoạt động |
| Luân phiên | Không phun hai lần liên tiếp; xen kẽ nhóm 5, 6, 13 hoặc nhóm khác được đăng ký |
Kết Luận
Flometoquin cần 14 năm để đi từ phòng thí nghiệm năm 2004 đến lần đăng ký đầu tiên năm 2018, và đến nay vẫn là hoạt chất duy nhất trong nhóm IRAC 34. Nó hoạt động theo một cách khác thường: chất trong chai phải được chính côn trùng chuyển hóa thì mới chặn được quá trình sinh năng lượng. Tác động nhanh và cơ chế mới làm flometoquin có giá trị với bọ trĩ khó trị. Vì không có hoạt chất nào khác cùng nhóm để thay thế, dùng đúng cây trồng đăng ký, phun kỹ và luân phiên là cách giữ được hiệu lực đó.
Nguồn Tham Khảo
- Kobayashi T., Hotta H., Miyake T., Nomura M., Horikoshi R., Yamamoto K. (2023). Discovery of flometoquin, a novel quinoline insecticide. Journal of Pesticide Science 48(4):168–174. doi:10.1584/jpestics.D23-035
- Takeuchi H., Nomura M., Horikoshi R. và cộng sự (2024). Flometoquin, a novel insecticide, acts on mitochondrial complex III as a Qi inhibitor. Journal of Pesticide Science 49(4):203–209. doi:10.1584/jpestics.D24-008
- IRAC. Mode of Action Classification Scheme, phiên bản 11.3 (01/2025).
- Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản (MAFF/FAMIC). Báo cáo thẩm định hoạt chất flometoquin (審査報告書 フロメトキン), 04/7/2018.
- Meiji Seika Pharma. Thông cáo đăng ký Meiji Finesave Flowable, 30/3/2018.
- Nippon Kayaku. Hỏi đáp kỹ thuật về Finesave Flowable.
- Tỉnh Kyoto, Nhật Bản (2021). Khảo sát độ mẫn cảm của bọ trĩ hành với thuốc trừ sâu.
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, Phụ lục I: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.
- Hợp Trí Summit. Thông tin sản phẩm GLADIUS 10SC.
- Ảnh bìa: Jesse Rorabaugh / Wikimedia Commons, CC0 (đã cắt khung). Ảnh bọ trĩ trên lá: Frank Peairs, Colorado State University, Bugwood.org / Wikimedia Commons, CC BY 3.0.