Chùm trái cà phê chín đỏ xen xanh trên cành, bài fluxapyroxad và pyraclostrobin là gì, trị thán thư cà phê, hồ tiêu

Fluxapyroxad Và Pyraclostrobin Là Gì? Hai Chốt Chặn Hô Hấp Nấm Trị Thán Thư Cà Phê, Hồ Tiêu

Fluxapyroxad (SDHI, FRAC 7) và pyraclostrobin (QoI, FRAC 11) chặn hô hấp nấm ở hai mắt xích khác nhau. Đăng ký tại Việt Nam: thán thư cà phê, hồ tiêu; khô vằn ngô; đốm vòng khoai tây. Phun phòng hoặc khi bệnh mới chớm, tối đa hai lần mỗi vụ rồi đổi nhóm thuốc.

Cuối tháng mười ở Đắk Lắk, mưa đã thưa nhưng tán cà phê vẫn ướt tới trưa. Trên vài chùm quả sắp chín có những vết nâu đen hơi lõm, quả khô dần rồi rụng, đầu cành có đoạn chết khô từ ngọn vào. Bên vườn tiêu kế đó, lá già xuất hiện đốm nâu viền vàng, gié tiêu thưa dần. Cả hai là thán thư, một bệnh do nấm Colletotrichum, và cả hai bùng lên đúng lúc cây đang nuôi trái.

Hỏi cửa hàng thì nghe một câu quen: thuốc này hai hoạt chất, chặn hô hấp của nấm ở hai chỗ. Bài này giải thích câu đó bằng số liệu: hai hoạt chất ấy là gì, ra đời từ đâu, chặn hô hấp nghĩa là gì, trị được bệnh nào trên cây nào, và quan trọng nhất là làm sao để cặp đôi này còn hiệu quả sau nhiều vụ chứ không phải chỉ một vụ.

Từ Một Cây Nấm Nhỏ Trong Rừng Đến Hai Hoạt Chất Trong Cùng Một Chai

Câu chuyện bắt đầu không phải trong phòng thí nghiệm của một công ty, mà từ một loài nấm mũ nhỏ mọc trên quả thông rụng. Năm 1977, các nhà nghiên cứu ở Đức tách được từ nấm Strobilurus tenacellus một chất gọi là strobilurin A, chất mà loài nấm này tiết ra để đẩy lùi các nấm khác cạnh tranh thức ăn. Theo tổng quan của Đại học Nông nghiệp Hoa Nam (Quảng Châu) đăng trên tạp chí Frontiers in Microbiology năm 2020, chính phân tử tự nhiên đó là khuôn mẫu cho cả nhóm thuốc strobilurin, với sản phẩm thương mại đầu tiên ra đời năm 1996.

Pyraclostrobin là thế hệ sau của nhóm này. Hồ sơ của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) ghi nhận BASF đăng ký pyraclostrobin kỹ thuật ngày 30 tháng 9 năm 2002; Liên minh châu Âu đưa hoạt chất vào danh sách được phép từ ngày 1 tháng 6 năm 2004 và vừa gia hạn đến năm 2041 theo Quy định (EU) 2026/1976. Fluxapyroxad trẻ hơn mười năm: EPA cấp đăng ký hoạt chất mới ngày 2 tháng 5 năm 2012 với mã BAS 700 F, còn châu Âu phê duyệt ngày 4 tháng 7 năm 2012, có hiệu lực từ đầu năm 2013. Hai hoạt chất, hai nhóm hóa học, cùng một hãng, và cùng nhắm vào một điểm yếu của nấm: cách nấm tạo ra năng lượng.

1977
Strobilurin A được tách từ nấm Strobilurus tenacellus, mở đường cho nhóm strobilurin (Frontiers in Microbiology, 2020).
1996
Strobilurin thương mại đầu tiên ra thị trường; đến 2002 đã có sáu hoạt chất cùng nhóm (Pest Management Science, 2002).
2002
Pyraclostrobin được EPA Hoa Kỳ chấp nhận đăng ký cho BASF (30/9/2002); EU cho phép từ 1/6/2004.
2012
Fluxapyroxad được EPA đăng ký hoạt chất mới (2/5/2012) và EU phê duyệt (4/7/2012), nhóm SDHI.
2026
EU gia hạn pyraclostrobin đến 30/9/2041, kèm yêu cầu bảo vệ sinh vật thủy sinh (Quy định (EU) 2026/1976).
Trả lời nhanh

Fluxapyroxad (nhóm SDHI, mã FRAC 7) và pyraclostrobin (nhóm QoI, mã FRAC 11) là hai thuốc trừ nấm cùng làm nghẽn dây chuyền tạo năng lượng trong ty thể của nấm, nhưng ở hai mắt xích khác nhau: phức hợp II và phức hợp III. Tại Việt Nam, hỗn hợp hai hoạt chất này được đăng ký trừ thán thư trên cà phê và hồ tiêu, khô vằn trên ngô, đốm vòng trên khoai tây. Thuốc có hiệu quả nhất khi phun phòng hoặc lúc bệnh mới chớm, và chỉ giữ được hiệu quả lâu dài nếu mỗi vụ phun không quá hai lần rồi đổi sang nhóm khác.

Chặn Hô Hấp Nấm Nghĩa Là Gì?

Nấm cũng thở như cây và như chúng ta. Bên trong mỗi tế bào nấm có ty thể, nơi đường và chất béo được đốt dần qua một dây chuyền bốn trạm, gọi là chuỗi hô hấp, để tạo ra ATP, đồng tiền năng lượng của tế bào. Bào tử muốn nảy mầm cần ATP; ống mầm muốn đâm qua lớp sáp trên vỏ quả cà phê cần ATP; sợi nấm muốn lan trong mô lá cần ATP. Chặn được dây chuyền này là chặn mọi việc nấm định làm.

Hãy hình dung dây chuyền đó như một nhà máy xay lúa với bốn máy nối tiếp nhau. Fluxapyroxad khóa máy số hai: nó bám vào enzyme succinate dehydrogenase, gọi tắt là SDH, nên nhóm này có tên SDHI. Pyraclostrobin khóa máy số ba: nó chiếm chỗ ở vị trí Qo của phức hợp cytochrome bc1, nên nhóm này gọi là QoI. Danh mục mã FRAC 2025 của Ủy ban Hành động Kháng thuốc trừ nấm xếp fluxapyroxad vào mã 7 (phức hợp II) và pyraclostrobin vào mã 11 (phức hợp III). Hai máy khác nhau, hai ổ khóa khác nhau, nên một con nấm đã học cách mở ổ này vẫn chưa mở được ổ kia.

Vì Sao Hai Chốt Chặn Tốt Hơn Một?

FRAC có một nguyên tắc rất rõ cho thuốc hỗn hợp: hai thành phần phải thuộc hai nhóm không kháng chéo, và mỗi thành phần phải tự mình trị được bệnh. Cặp SDHI và QoI đáp ứng nguyên tắc đó. Nhưng FRAC cũng nói thẳng điều thứ hai: cả hai đều là thuốc tác động một điểm. Nhóm 7 được xếp nguy cơ kháng trung bình đến cao, nhóm 11 nguy cơ cao. Hỗn hợp làm nấm khó kháng hơn, chứ không làm nấm không bao giờ kháng. Hiểu điều này ngay từ đầu giúp bà con dùng thuốc đúng cách ở phần sau.

Cặp Đôi Này Trị Bệnh Gì, Trên Cây Gì?

Thán Thư Trên Cà Phê Và Hồ Tiêu

Thán thư do nhóm nấm Colletotrichum gây ra. Nghiên cứu của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam tại Sơn La, đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam năm 2018, tìm thấy năm loài Colletotrichum khác nhau trên cà phê chè, và chúng phát triển mạnh nhất ở 28 đến 30 độ C, đúng nhiệt độ những ngày mưa nắng xen kẽ ở Tây Nguyên. Một nghiên cứu khác của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2011 xếp thán thư là bệnh gây hại thứ hai trên cà phê nước ta sau rỉ sắt, với các mẫu nấm lấy từ quả xanh có khả năng gây bệnh cao nhất.

Cách nhận biết: trên quả, vết bệnh nâu đen, hơi lõm, lan dần quanh quả rồi quả khô đen và rụng; trên cành, đoạn chết khô từ ngọn vào, lá trên đoạn đó héo rũ mà không rụng ngay; trên tiêu, đốm nâu viền vàng ở lá, gié tiêu bị đen và rụng từng phần. Điều kiện bệnh phát: mưa kéo dài, tán rậm ít gió, cây thiếu dinh dưỡng sau một mùa nuôi trái nặng. Thời điểm phun hợp lý nhất là khi thấy những vết đầu tiên trên vài cây, không đợi cả hàng. Thuốc chặn hô hấp làm bào tử không nảy mầm được, nên phun sớm có giá trị gấp nhiều lần phun muộn, khi nấm đã ăn sâu vào quả.

Dữ liệu trực tiếp về pyraclostrobin trên thán thư cũng khá rõ. Nghiên cứu tại Trung Quốc đăng trên tạp chí Plant Disease năm 2020 trên cây ớt, loài nấm Colletotrichum scovillei, cho thấy pyraclostrobin ức chế bào tử nảy mầm ở nồng độ chỉ 0,048 đến 0,064 mg/L; phun từ lúc hoa nở rộ giảm bệnh từ 23,7% đến 89,8% và tăng năng suất 10,7% đến 29,2%. Trên cà phê, thử nghiệm đồng ruộng của CIRAD và Viện IRAD ở miền Tây Cameroon, đăng trên Journal of Plant Diseases and Protection năm 2024, cho thấy một thuốc cùng nhóm QoI giảm tỷ lệ cành bệnh thối quả cà phê từ 55% xuống 16% và tăng năng suất gần gấp đôi.

Khô Vằn Trên Ngô

Khô vằn do nấm Rhizoctonia solani, cùng loài gây khô vằn trên lúa. Vết bệnh bắt đầu ở bẹ lá sát đất, hình bầu dục màu xám xanh, viền nâu, loang rộng thành từng mảng vằn như da hổ rồi leo lên bẹ trên và lá bi. Nghiên cứu của Đại học Cần Thơ đăng năm 2025 cho thấy loài nấm này gây chết cây con bắp 100% trong vòng bảy ngày khi được chủng vào đất, đủ để hiểu vì sao bệnh lan nhanh trong ruộng ngô dày và ẩm.

Fluxapyroxad có số liệu rất tốt với chính loài nấm này. Viện Khoa học Nông nghiệp An Huy (Trung Quốc) đo 128 mẫu nấm Rhizoctonia solani trên lúa, đăng trên European Journal of Plant Pathology năm 2014: nồng độ ức chế một nửa chỉ 0,054 microgam mỗi mililít, nhạy gấp bốn mươi lần so với boscalid, một thuốc SDHI đời trước; ngoài đồng, fluxapyroxad ở 100 gam hoạt chất mỗi hecta trị được 83 đến 88% khô vằn so với 52 đến 57% của boscalid. Trạm nghiên cứu Macon Ridge của Đại học Bang Louisiana năm 2016 ghi nhận fluxapyroxad giảm diện tích bệnh khô vằn lúa còn chưa tới một nửa và nâng năng suất khoảng 25%.

Đốm Vòng Trên Khoai Tây

Đốm vòng do nấm Alternaria solani: đốm nâu sẫm trên lá già, có các vòng đồng tâm như bia bắn, quanh đốm vàng dần, bắt đầu từ tầng lá dưới. Đây cũng là bệnh dạy cho cả thế giới bài học về kháng thuốc. Đại học Bang North Dakota (Hoa Kỳ), trong nghiên cứu trên Plant Disease năm 2013, thấy 75 đến 80% mẫu nấm lấy năm 2010 và 2011 đã kháng boscalid, và tới 99% trong số đó mang thêm đột biến F129L làm giảm hiệu lực nhóm QoI; những mẫu kháng nặng cũng bị fluxapyroxad trị kém hơn. Bài học không phải là thuốc vô dụng, mà là ở nơi phun một nhóm thuốc liên tục nhiều năm, nấm sẽ tìm ra cách mở khóa. Phần tiếp theo nói về cách không để chuyện đó xảy ra ở vườn mình.

Phun Cho Cây Xanh Hơn: Nên Tin Đến Đâu?

Một lý do nhiều nhà vườn thích pyraclostrobin là cây xanh lâu hơn sau khi phun, dù không thấy bệnh. Hiện tượng này có thật, nhưng có đổi thành năng suất hay không thì các trường đại học đã đo nhiều năm và kết quả không đồng nhất. Nghiên cứu chung của Đại học Bang Iowa, Đại học Wisconsin, Đại học Bang Ohio và Đại học Illinois trên tạp chí Phytopathology năm 2015, với tám điểm thí nghiệm ngô trong ba năm, thấy pyraclostrobin tăng năng suất ở chỉ ba trong tám điểm, mỗi điểm thêm 5 đến 6%, và kết luận nguyên nhân là bệnh và thời tiết chứ không phải một tác dụng sinh lý ổn định.

Hiệp hội Đậu nành Iowa theo dõi gần 280 ruộng nông dân trong 5 năm: năng suất trung bình tăng 0,16 tấn mỗi hecta, nhưng xác suất đủ bù tiền thuốc chỉ từ 41 đến 65%. Đại học Maryland năm 2024, ở ba trạm không có bệnh lá, thấy lô phun xanh hơn rõ rệt nhưng năng suất không khác lô không phun. Nói ngắn: hãy phun vì có bệnh hoặc nguy cơ bệnh, đừng phun chỉ để cây xanh.

Cách Giữ Cặp Đôi Này Hiệu Quả Qua Nhiều Vụ

Tin tốt trước: biên bản họp nhóm QoI của FRAC tháng 3 năm 2025 ghi nhận quần thể nấm khô vằn lúa tại Việt Nam vẫn hoàn toàn nhạy với nhóm QoI trong theo dõi năm 2024. Nghĩa là chúng ta đang ở điểm xuất phát tốt, và việc giữ được điểm xuất phát đó nằm trong tay người phun. Những con số cần nhớ, lấy từ khuyến cáo của FRAC cho nhóm SDHI và QoI:

01
Không quá hai lần mỗi vụ
FRAC khuyến cáo tối đa hai lần phun chứa SDHI cho mỗi vụ cây ngắn ngày, luôn ở dạng hỗn hợp; với cây nhiều lần phun trong năm, thuốc hỗn hợp không vượt quá một nửa tổng số lần, và không phun hai lần liên tiếp cùng nhóm.
02
Đổi nhóm giữa hai lần phun
Sau một lần phun cặp 7 + 11, lần kế tiếp dùng nhóm khác: thuốc đa điểm như mancozeb, propineb, gốc đồng, hoặc nhóm triazole như difenoconazole, hexaconazole. Thuốc đa điểm còn là lớp bảo vệ bề mặt rất tốt trong mùa mưa.
03
Đếm cả những chai khác cùng nhóm
Azoxystrobin, trifloxystrobin, kresoxim-methyl cũng là mã 11; boscalid, pydiflumetofen cũng là mã 7. Hai chai khác tên nhưng cùng mã thì tính là một. Trộn hai thuốc cùng nhóm SDHI với nhau, theo FRAC, không phải là biện pháp chống kháng.
04
Phun phòng, phun kỹ, ghi sổ
Thuốc một điểm hiệu quả nhất trước khi nấm xâm nhập. Phun ướt đều tán, cả mặt dưới lá và các chùm quả bên trong. Ghi ngày phun và nhóm thuốc để vụ sau xếp lịch luân phiên.

Vì sao phải nghiêm như vậy? Ở Florida, Đại học Florida phát hiện 90% mẫu nấm thán thư Colletotrichum acutatum trên dâu tây lấy năm 2013 và 2014 đã kháng nhóm QoI, mang đột biến G143A hoặc F129L, theo Plant Disease năm 2016. Với đột biến G143A, FRAC cho biết hệ số kháng thường trên 100 lần và thuốc QoI dùng một mình gần như mất tác dụng ngoài đồng. Đó là kết quả của nhiều năm phun một nhóm thuốc; nấm ở Việt Nam chưa đi tới đó, và không cần phải đi tới đó.

Ưu Điểm Và Nhược Điểm

Ưu điểm
  • Hai cơ chế không kháng chéo trong một lần pha, đúng nguyên tắc hỗn hợp của FRAC.
  • Hiệu lực cao ngay ở nồng độ thấp trên Rhizoctonia và Colletotrichum (số liệu An Huy 2014, Plant Disease 2020).
  • Có tính lưu dẫn và kéo dài, phù hợp phun phòng trước đợt mưa.
  • Cây giữ bộ lá xanh lâu hơn sau phun, có lợi khi cây đang nuôi trái.
Nhược điểm
  • Cả hai hoạt chất đều tác động một điểm, nguy cơ kháng trung bình đến cao. Cách khắc phục: tối đa hai lần mỗi vụ, luân phiên với mancozeb, propineb, gốc đồng hoặc triazole.
  • Không trị được bệnh do vi khuẩn (bạc lá, thối nhũn, chết nhanh do Phytophthora cũng không thuộc nhóm nấm thật). Cách khắc phục: chụp ảnh vết bệnh gửi Zalo để phân biệt trước khi phun; chết nhanh trên tiêu cần thuốc gốc phosphonate hoặc metalaxyl.
  • Pyraclostrobin rất độc với cá và sinh vật thủy sinh. Cách khắc phục: không phun gần ao hồ, không rửa bình ở mương, phun lúc lặng gió.
  • Phun muộn khi quả đã đen thì không cứu được quả đó. Cách khắc phục: phun khi thấy vết đầu tiên, kết hợp cắt tỉa cành bệnh và thu gom quả rụng.

An Toàn Nếu Dùng Đúng

Cả hai hoạt chất đều nằm trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam. Về sức khỏe người, hồ sơ EPA xếp fluxapyroxad ở nhóm độc cấp tính thấp và kết luận không có khả năng gây ung thư ở người; cơ sở dữ liệu PPDB của Đại học Hertfordshire (Anh) ghi pyraclostrobin có liều gây chết một nửa qua đường miệng trên chuột trên 5.000 mg/kg, tức là độc cấp tính thấp. Fluxapyroxad gần như không độc với ong mật. Điểm cần chú ý nhất là nước: pyraclostrobin gây chết một nửa cá hồi ở nồng độ chỉ 0,0062 mg/L, và chính EPA ghi rằng nguy cơ với sinh vật thủy sinh của các sản phẩm hai hoạt chất chủ yếu đến từ pyraclostrobin. Mang găng, kính, khẩu trang; pha ở nơi xa nguồn nước; giữ đúng thời gian cách ly ghi trên chai.

Hai ổ khóa trên cùng một dây chuyền năng lượng: nấm khó mở hơn, nhưng mở được nếu ta đưa chìa cho nó mỗi tuần.

Tìm Hiểu Sâu: Các Nghiên Cứu Đứng Sau Bài Này

Nơi nghiên cứu, năm Nội dung Kết quả chính
Viện KHNN An Huy, Trung Quốc; European Journal of Plant Pathology, 2014 128 mẫu Rhizoctonia solani trên lúa, fluxapyroxad so với boscalid EC50 0,054 so với 2,2 µg/mL; ngoài đồng 83–88% so với 52–57%
Đại học Bang North Dakota, Hoa Kỳ; Plant Disease, 2013 Kháng SDHI và QoI ở Alternaria solani trên khoai tây 75–80% mẫu kháng boscalid, 99% trong đó mang F129L
Trung Quốc; Plant Disease, 2020 Pyraclostrobin trên thán thư ớt, liều và thời điểm Giảm bệnh 23,7–89,8%, năng suất +10,7–29,2% khi phun từ hoa rộ
CIRAD và IRAD, Cameroon; Journal of Plant Diseases and Protection, 2024 Thuốc QoI trên bệnh thối quả cà phê Cành bệnh 16% so với 55% đối chứng, năng suất gần gấp đôi
Đại học Florida, Hoa Kỳ; Plant Disease, 2016 Kháng QoI ở Colletotrichum acutatum trên dâu tây 90% mẫu kháng, đột biến G143A hoặc F129L
Iowa, Wisconsin, Ohio, Illinois; Phytopathology, 2015 Pyraclostrobin trên ngô khi bệnh lá thấp Tăng năng suất ở 3/8 điểm, mỗi điểm 5–6%
Viện KHNN Việt Nam, Sơn La; Tạp chí KHCN NN VN, 2018 Loài Colletotrichum gây thán thư cà phê chè Năm loài, phát triển tốt nhất 28–30 °C
FRAC, biên bản nhóm QoI, 2025 Theo dõi kháng thuốc toàn cầu Khô vằn lúa Việt Nam còn nhạy hoàn toàn với QoI năm 2024

Chưa có nghiên cứu của trường đại học Việt Nam nào thử riêng fluxapyroxad hay pyraclostrobin trên thán thư cà phê, hồ tiêu hoặc khô vằn ngô; số liệu đăng ký tại Việt Nam nằm trong hồ sơ đăng ký của hãng. Các kết quả trên là trên cây và loài nấm gần nhất, được nêu đúng như vậy.

Sản Phẩm Chứa Fluxapyroxad Và Pyraclostrobin Tại Quốc Việt Agri

Quốc Việt Agri có hai sản phẩm của BASF chứa pyraclostrobin. Một chai ghép pyraclostrobin với fluxapyroxad, đúng cặp 7 + 11 trong bài; gói còn lại ghép pyraclostrobin với metiram, một thuốc đa điểm, hợp để luân phiên.

Sản phẩm Hoạt chất Đăng ký và liều dùng
Priaxor 500SC, chai 80 ml Fluxapyroxad 167 g/L + Pyraclostrobin 333 g/L Thán thư cà phê, hồ tiêu: pha 1 ml cho 1 lít nước, 600–800 lít nước mỗi hecta, phun khi bệnh mới xuất hiện, cách ly 14 ngày. Khô vằn ngô và đốm vòng khoai tây: liều riêng in trên chai.
Cabrio Top 600WG, gói 100 g Metiram 550 g/kg + Pyraclostrobin 50 g/kg Thán thư ớt 1,25–1,875 kg/ha; thán thư xoài 0,3%; thán thư hồ tiêu, sầu riêng theo liều riêng từng cây; sương mai cà chua, dưa hấu, khoai tây; sẹo cam; rỉ sắt đậu tương; đốm nâu thanh long. Cách ly 5–7 ngày tùy cây.
Cặp 7 + 11
Priaxor 500SC (BASF)
Cặp fluxapyroxad + pyraclostrobin cho thán thư cà phê, hồ tiêu; khô vằn ngô; đốm vòng khoai tây. Phun phòng hoặc khi vết đầu tiên xuất hiện, tối đa hai lần mỗi vụ rồi đổi nhóm.
Xem sản phẩm →
Cabrio Top 600WG (BASF)
Pyraclostrobin đi cùng metiram đa điểm, phổ rộng trên rau màu, cây ăn trái và hồ tiêu; là lựa chọn luân phiên hợp lý sau một lần phun cặp SDHI + QoI.
Xem sản phẩm →

Cây của bà con không có trong danh sách đăng ký của hai sản phẩm trên? Nhắn Zalo 096 994 2349 kèm ảnh vết bệnh và tên cây, đội ngũ Quốc Việt Agri sẽ chỉ sản phẩm có đăng ký đúng cây đó thay vì đoán liều.

Nguồn Tham Khảo

  1. Fungicide Resistance Action Committee (2025). FRAC Code List 2025: Fungal control agents sorted by cross-resistance pattern and mode of action. CropLife International. frac.info.
  2. Fungicide Resistance Action Committee (2024). Recommendations for QoI use. QoI Working Group. frac.info.
  3. Fungicide Resistance Action Committee (2022). SDHI fungicides: general use recommendations. SDHI Working Group. frac.info.
  4. Fungicide Resistance Action Committee (2025). Minutes of the 2025 QoI Working Group meeting, 26–27 March 2025. frac.info.
  5. U.S. Environmental Protection Agency (2012). Pesticide Fact Sheet: Fluxapyroxad, registration of a new active ingredient. Office of Chemical Safety and Pollution Prevention, 2 May 2012. epa.gov.
  6. U.S. Environmental Protection Agency (2002). Registration of Pyraclostrobin Technical, EPA Reg. No. 7969-185, 30 September 2002. epa.gov.
  7. European Commission (2012). Commission Implementing Regulation (EU) No 589/2012 approving the active substance fluxapyroxad. Official Journal L 175. eur-lex.europa.eu.
  8. European Commission (2009). Commission Directive 2009/25/EC amending Directive 91/414/EEC as regards pyraclostrobin. legislation.gov.uk.
  9. European Commission (2026). Commission Implementing Regulation (EU) 2026/1976 renewing the approval of the active substance pyraclostrobin. boe.es.
  10. Feng, Y., Huang, Y., Zhan, H., Bhatt, P., Chen, S. (2020). An overview of strobilurin fungicide degradation: current status and future perspective. Frontiers in Microbiology 11: 389. doi.org/10.3389/fmicb.2020.00389.
  11. Bartlett, D.W., Clough, J.M., Godwin, J.R., Hall, A.A., Hamer, M., Parr-Dobrzanski, B. (2002). The strobilurin fungicides. Pest Management Science 58: 649–662. doi.org/10.1002/ps.520.
  12. Chen, Y., Yao, J., Yang, X., Zhang, A.-F., Gao, T.-C. et al. (2014). Sensitivity of Rhizoctonia solani causing rice sheath blight to fluxapyroxad in China. European Journal of Plant Pathology 140: 419–428. doi.org/10.1007/s10658-014-0477-7.
  13. Price, P., Purvis, M.A., Pruitt, H. (2017). Effect of selected fungicides on sheath blight, test weight, and yield of rice, 2016. Plant Disease Management Reports 11: FC036. LSU AgCenter. plantmanagementnetwork.org.
  14. Gudmestad, N.C., Arabiat, S., Miller, J.S., Pasche, J.S. (2013). Prevalence and impact of SDHI fungicide resistance in Alternaria solani. Plant Disease 97(7): 952–960. doi.org/10.1094/PDIS-12-12-1176-RE.
  15. Gao, Y.Y., Li, X.X., He, L.F., Li, B.X., Mu, W., Liu, F. (2020). Effect of application rate and timing on residual efficacy of pyraclostrobin in the control of pepper anthracnose. Plant Disease 104(3): 958–966. doi.org/10.1094/PDIS-03-19-0435-RE.
  16. Kacko, A., Mouen Bedimo, J.A., Ribeyre, F., Cilas, C., Niemenak, N. (2024). Chemical control against coffee berry disease: the efficacy of fungicides and berry position on disease incidence. Journal of Plant Diseases and Protection 131: 533–544. doi.org/10.1007/s41348-023-00849-y.
  17. Forcelini, B.B., Seijo, T.E., Amiri, A., Peres, N.A. (2016). Resistance in strawberry isolates of Colletotrichum acutatum from Florida to quinone-outside inhibitor fungicides. Plant Disease 100(10): 2050–2056. doi.org/10.1094/PDIS-01-16-0118-RE.
  18. Amiri, A., Heath, S.M., Peres, N.A. (2014). Resistance to fluopyram, fluxapyroxad, and penthiopyrad in Botrytis cinerea from strawberry. Plant Disease 98(4): 532–539. doi.org/10.1094/PDIS-07-13-0753-RE.
  19. Mallowa, S.O., Esker, P.D., Paul, P.A., Bradley, C.A., Chapara, V.R., Conley, S.P., Robertson, A.E. (2015). Effect of maize hybrid and foliar fungicides on yield under low foliar disease severity conditions. Phytopathology 105: 1080–1089. doi.org/10.1094/PHYTO-08-14-0210-R.
  20. Kyveryga, P.M., Blackmer, T.M., Mueller, D.S. (2010). On-farm evaluation of soybean yield response to pyraclostrobin. ASA-CSSA-SSSA Annual Meeting, Long Beach. Iowa Soybean Association On-Farm Network. confex.com.
  21. Kness, A. (2025). 2024 Maryland soybean fungicide efficacy trials. University of Maryland Extension. extension.umd.edu.
  22. Kandel, Y., Mueller, D.S., Wiggs, S. (2022). Statewide evaluation of foliar fungicides on soybeans in 2021. Iowa State University Extension, Integrated Crop Management. crops.extension.iastate.edu.
  23. University of Hertfordshire. Pesticide Properties DataBase: pyraclostrobin; fluxapyroxad. sitem.herts.ac.uk/…/564; sitem.herts.ac.uk/…/2002.
  24. Hoàng Văn Thảnh, Nguyễn Văn Tuất, Trịnh Xuân Hoạt, Lê Thị Thảo (2018). Một số đặc điểm sinh học của nấm Colletotrichum spp. gây bệnh thán thư trên cà phê chè tại Sơn La và hiệu lực của một số thuốc ức chế sự phát triển của nấm trên môi trường nhân tạo. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam 8(93): 74–81. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. tapchi.vaas.vn.
  25. Nguyen Thanh Ha, Hoang Thi Ngat, Nguyen Thi Thu Ha, Pham Xuan Hoi (2011). Study on pathogenicity of Colletotrichum gloeosporioides on coffee in North of Vietnam. Academia Journal of Biology 33(1): 67–73. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. doi.org/10.15625/0866-7160/v33n1.736.
  26. Đoàn Thị Kiều Tiên, Dương Hoài Phong, Phạm Văn Lực, Nguyễn Thị Thu Nga (2025). Hiệu quả của vi khuẩn vùng rễ trong phòng trừ bệnh chết cây con trên cây bắp do nấm Rhizoctonia solani. Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ 61(2B): 206–212. doi.org/10.22144/ctujos.2025.042.

Câu Hỏi Thường Gặp

Fluxapyroxad là gì?

Fluxapyroxad là thuốc trừ nấm nhóm SDHI (mã FRAC 7) do BASF phát triển, được Hoa Kỳ đăng ký năm 2012 và EU phê duyệt cùng năm. Thuốc khóa enzyme succinate dehydrogenase ở phức hợp II trong ty thể, làm nấm không tạo được năng lượng để nảy mầm và lan trong mô cây. Nó rất nhạy với nấm khô vằn Rhizoctonia solani và được dùng chung với pyraclostrobin để trị thán thư, khô vằn, đốm vòng.

Pyraclostrobin là gì, khác fluxapyroxad chỗ nào?

Pyraclostrobin là thuốc nhóm strobilurin, còn gọi là QoI (mã FRAC 11), BASF đăng ký năm 2002, bắt nguồn từ chất strobilurin A tách từ một loài nấm rừng năm 1977. Nó chặn phức hợp III của chuỗi hô hấp, tức mắt xích khác với fluxapyroxad (phức hợp II). Hai thuốc không kháng chéo nhau, nên ghép chung làm nấm khó kháng hơn, nhưng cả hai vẫn thuộc nhóm nguy cơ kháng cao và cần luân phiên.

Fluxapyroxad và pyraclostrobin trị bệnh gì?

Tại Việt Nam, hỗn hợp hai hoạt chất này được đăng ký trừ thán thư trên cà phê và hồ tiêu, khô vằn trên ngô và đốm vòng trên khoai tây. Thuốc không trị bệnh do vi khuẩn và không thay thế được thuốc chuyên cho nấm trứng như Phytophthora gây chết nhanh hồ tiêu.

Một vụ phun được mấy lần?

FRAC khuyến cáo tối đa hai lần phun chứa SDHI cho mỗi vụ cây ngắn ngày, luôn ở dạng hỗn hợp, và không phun hai lần liên tiếp cùng nhóm. Với cây lâu năm nhiều lần phun trong năm, thuốc hỗn hợp SDHI hoặc QoI không vượt quá một nửa tổng số lần phun. Lần kế tiếp nên đổi sang mancozeb, propineb, gốc đồng hoặc triazole.

Priaxor 500SC pha bao nhiêu?

Theo tài liệu của hãng trên trang sản phẩm, với thán thư cà phê và hồ tiêu pha 1 ml cho 1 lít nước, dùng 600 đến 800 lít nước mỗi hecta, phun khi bệnh mới xuất hiện và cách ly 14 ngày. Liều cho khô vằn ngô và đốm vòng khoai tây được in riêng trên chai. Phun phòng sớm và không quá hai lần mỗi vụ.

Chưa chắc vết bệnh trên cà phê, tiêu là thán thư hay bệnh khác?

Gửi ảnh toàn cảnh và cận cảnh vết bệnh, tên cây, giai đoạn và danh sách thuốc đã phun hai tháng qua. Đội ngũ Quốc Việt Agri sẽ đối chiếu với nhóm thuốc đã dùng để gợi ý lần phun kế tiếp đúng nguyên tắc luân phiên.

Nhắn Zalo 096 994 2349

Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Fluxapyroxad là gì?

Fluxapyroxad là thuốc trừ nấm nhóm SDHI (mã FRAC 7) do BASF phát triển, được Hoa Kỳ đăng ký năm 2012 và EU phê duyệt cùng năm. Thuốc khóa enzyme succinate dehydrogenase ở phức hợp II trong ty thể, làm nấm không tạo được năng lượng để nảy mầm và lan trong mô cây. Nó rất nhạy với nấm khô vằn Rhizoctonia solani và được dùng chung với pyraclostrobin để trị thán thư, khô vằn, đốm vòng.

Pyraclostrobin là gì, khác fluxapyroxad chỗ nào?

Pyraclostrobin là thuốc nhóm strobilurin, còn gọi là QoI (mã FRAC 11), BASF đăng ký năm 2002, bắt nguồn từ chất strobilurin A tách từ một loài nấm rừng năm 1977. Nó chặn phức hợp III của chuỗi hô hấp, tức mắt xích khác với fluxapyroxad (phức hợp II). Hai thuốc không kháng chéo nhau, nên ghép chung làm nấm khó kháng hơn, nhưng cả hai vẫn thuộc nhóm nguy cơ kháng cao và cần luân phiên.

Fluxapyroxad và pyraclostrobin trị bệnh gì?

Tại Việt Nam, hỗn hợp hai hoạt chất này được đăng ký trừ thán thư trên cà phê và hồ tiêu, khô vằn trên ngô và đốm vòng trên khoai tây. Thuốc không trị bệnh do vi khuẩn và không thay thế được thuốc chuyên cho nấm trứng như Phytophthora gây chết nhanh hồ tiêu.

Một vụ phun được mấy lần?

FRAC khuyến cáo tối đa hai lần phun chứa SDHI cho mỗi vụ cây ngắn ngày, luôn ở dạng hỗn hợp, và không phun hai lần liên tiếp cùng nhóm. Với cây lâu năm nhiều lần phun trong năm, thuốc hỗn hợp SDHI hoặc QoI không vượt quá một nửa tổng số lần phun. Lần kế tiếp nên đổi sang mancozeb, propineb, gốc đồng hoặc triazole.

Priaxor 500SC pha bao nhiêu?

Theo tài liệu của hãng trên trang sản phẩm, với thán thư cà phê và hồ tiêu pha 1 ml cho 1 lít nước, dùng 600 đến 800 lít nước mỗi hecta, phun khi bệnh mới xuất hiện và cách ly 14 ngày. Liều cho khô vằn ngô và đốm vòng khoai tây được in riêng trên chai. Phun phòng sớm và không quá hai lần mỗi vụ.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog