Rệp sáp bu đặc trên thân và đọt non, bài fenpropathrin và fenitrothion là gì, cúc tổng hợp trị nhện và rệp sáp

Fenpropathrin Và Fenitrothion Là Gì? Trị Nhện Gié, Rệp Sáp Cà Phê Và Cách Dùng Không Làm Rầy Nâu Bùng Phát

Fenpropathrin (IRAC 3A) và fenitrothion (IRAC 1B) đánh vào hệ thần kinh sâu bằng hai đường. Hỗn hợp hợp với nhện gié trước trổ và ổ rệp sáp cà phê đầu mùa khô. Trên lúa chỉ phun khi rầy nâu vượt ngưỡng, một lần, rồi đổi nhóm; phun sớm hoặc lặp lại có thể làm rầy bùng phát.

Lúa đông xuân ở Đồng Tháp vào giai đoạn làm đòng, trời nắng, ruộng sạ dày. Lật bẹ lá ra thấy những vết sọc nâu tím như cạo gió, mà không thấy con gì. Vài tuần sau bông trổ lên thẳng đứng, hạt lép, nhiều hạt cong như mỏ vẹt. Thủ phạm là nhện gié, một loài nhện nhỏ đến mức mắt thường không nhìn ra, sống kín trong bẹ lá và chích hút ngay chỗ bông lúa đang hình thành.

Cùng lúc đó trên Tây Nguyên, mùa khô bắt đầu, chùm quả cà phê có những đám bông trắng bám dày, kiến bò lên xuống liên tục. Đó là rệp sáp, con rệp có lớp sáp bọc ngoài nên thuốc tiếp xúc trượt đi. Hai loài hại rất khác nhau, nhưng ở Việt Nam, một hỗn hợp hai hoạt chất đã được đăng ký cho cả hai: fenpropathrin và fenitrothion. Bài này giải thích hai hoạt chất ấy là gì, vì sao có mùi hắc, tác động tới sâu và nhện ra sao, dùng khi nào thì lợi, và một điều mà rất ít người bán nói với bà con: dùng sai thời điểm trên lúa, hỗn hợp này có thể làm rầy nâu bùng phát thay vì giảm.

Hai Hoạt Chất Từ Một Hãng Nhật, Cách Nhau Hai Thập Kỷ

Fenitrothion là hoạt chất già hơn. Theo tài liệu Tiêu chí Sức khỏe Môi trường số 133 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1992, chất này được điều chế lần đầu ở Tiệp Khắc năm 1956, rồi được Sumitomo Chemical và Bayer tổng hợp độc lập năm 1959, và được dùng từ năm đó tới nay. Sumitomo đưa nó ra thị trường với tên Sumithion. Ủy ban hỗn hợp FAO/WHO về dư lượng thuốc trừ dịch hại (JMPR) năm 1974 đã ghi nhận các mục đích sử dụng của nó: lúa, bông vải, cà phê, bảo quản ngũ cốc sau thu hoạch, và cả phun tồn lưu trong nhà để diệt muỗi sốt rét.

Fenpropathrin thuộc một thế hệ khác hẳn: nhóm cúc tổng hợp, hay pyrethroid, mô phỏng chất độc tự nhiên trong hoa cúc trừ trùng. Chuyên khảo của Dịch vụ Thông tin Chất độc Quốc gia Anh (UKPID) ghi nó được tổng hợp lần đầu năm 1971 và thương mại hóa năm 1980; Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) cho đăng ký lần đầu năm 1989. Hồ sơ JMPR 1993 ghi mã phát triển của Sumitomo là S-3206, các tên thương mại Danitol, Meothrin, Rody, và một đặc tính mà không phải pyrethroid nào cũng có: nó trừ được nhện, nên được xếp vừa là thuốc trừ sâu vừa là thuốc trừ nhện.

1956
Fenitrothion được điều chế lần đầu ở Tiệp Khắc (WHO, Tiêu chí Sức khỏe Môi trường 133, 1992).
1959
Sumitomo Chemical và Bayer tổng hợp độc lập fenitrothion; hoạt chất bắt đầu được sử dụng (WHO 1992).
1971
Fenpropathrin được tổng hợp lần đầu; thương mại hóa năm 1980 (UKPID, 1998).
1989
EPA Hoa Kỳ cấp đăng ký lần đầu cho fenpropathrin, xếp loại thuốc hạn chế sử dụng vì độc với cá (EPA, 2020).
2007
Liên minh châu Âu không đưa fenitrothion vào danh mục được phép (Quyết định 2007/379/EC); fenpropathrin đã rút khỏi EU từ 2003 do không có hồ sơ đăng ký.
Trả lời nhanh

Fenpropathrin là thuốc trừ sâu và trừ nhện nhóm cúc tổng hợp (IRAC 3A), tác động lên kênh natri của tế bào thần kinh. Fenitrothion là thuốc lân hữu cơ (IRAC 1B), ức chế men cholinesterase. Hai cơ chế khác nhau nên hỗn hợp đánh sâu bằng hai đường, và fenitrothion bay hơi nhẹ, tạo mùi hắc đặc trưng. Tại Việt Nam hỗn hợp này được đăng ký trừ nhện, rầy nâu, bọ trĩ trên lúa; sâu đục cành, đục quả, rệp sáp trên cà phê; rệp, sâu xanh, rầy xanh, bọ trĩ trên bông vải. Dùng tốt nhất khi nhện gié hoặc rệp sáp mới xuất hiện; trên lúa, tránh phun sớm và phun lặp lại vì cả hai nhóm đều có thể làm rầy nâu bùng phát.

Hai Đường Vào Hệ Thần Kinh Của Sâu

Dây thần kinh của côn trùng truyền tín hiệu bằng hai việc nối tiếp nhau: dòng ion natri chạy qua màng tế bào tạo ra xung điện, rồi ở khe nối giữa hai tế bào, chất dẫn truyền acetylcholine được thả ra và sau đó phải được men cholinesterase dọn sạch để tín hiệu kết thúc. Hai hoạt chất trong bài nhắm vào hai việc đó.

Fenpropathrin bám vào kênh natri và giữ kênh mở lâu hơn bình thường. Tổng quan của Đại học Cornell đăng trên Archives of Toxicology năm 2012 mô tả các pyrethroid loại II, trong đó có fenpropathrin, tạo ra dòng điện đuôi kéo dài vì kênh natri không đóng lại được; dây thần kinh phóng điện liên tục, sâu và nhện co giật rồi chết. Ủy ban Hành động Kháng thuốc trừ sâu (IRAC) xếp cơ chế này vào nhóm 3A. Fenitrothion làm việc ngược lại ở khe nối: nó khóa men cholinesterase, acetylcholine không được dọn, tín hiệu không tắt. IRAC xếp cơ chế này vào nhóm 1B, nhóm lân hữu cơ.

Hai nhóm, hai mục tiêu, nên một con sâu đã mang đột biến kênh natri vẫn bị đường thứ hai hạ. Nhưng xin nói rõ một điều để bà con khỏi hiểu sai: cả hai hoạt chất đều tác động lên thần kinh và đều có thể bị kháng theo cách riêng của chúng. IRAC khuyến cáo không dùng cùng một nhóm cơ chế cho hai lứa sâu liên tiếp, và điều đó áp dụng cho cả thuốc hỗn hợp.

Vì Sao Có Mùi Hắc, Và Mùi Đó Làm Được Gì?

Mùi hắc là của fenitrothion. Bản đặc tính kỹ thuật của WHO năm 2010 ghi fenitrothion là thuốc lân hữu cơ không lưu dẫn, bay hơi nhẹ, với áp suất hơi tăng gấp năm lần khi nhiệt độ tăng từ 20 lên 30 độ C. Hướng dẫn An toàn và Sức khỏe số 65 của WHO cũng ghi chất này bốc hơi dần khỏi bề mặt đã phun. Hơi thuốc trong tán lá giúp thuốc có mặt ở cả những chỗ giọt phun chưa phủ hết, và JMPR 1993 ghi nhận fenpropathrin còn có tác dụng xua đuổi côn trùng ba đến bốn tuần sau phun. Tuy vậy, không tài liệu quốc tế nào mô tả hơi thuốc đủ để thay cho việc phun ướt đều. Với nhện gié trong bẹ lá và rệp sáp trong chùm quả, phun kỹ vào đúng chỗ vẫn là điều quyết định; mùi chỉ là phần hỗ trợ.

Hỗn Hợp Này Trị Gì, Trên Cây Gì?

Nhện Gié Trên Lúa

Nhện gié Steneotarsonemus spinki là đối tượng mà fenpropathrin có lợi thế nhất, vì phần lớn thuốc trừ sâu thông thường không trừ được nhện. Tổng quan của Đại học Bang Louisiana và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đăng trên Crop Protection năm 2009 mô tả loài này sống trong bẹ lá và trên hạt đang hình thành, gây vết nâu hoại tử trên bẹ, bông trổ thẳng đứng không cúi, hạt lép và hạt cong như mỏ vẹt; thiệt hại ghi nhận từ 30 đến 70% ở Cuba, 60% ở Đài Loan năm 1974, 5 đến 20% ở miền Nam Trung Quốc. Nhện còn mang theo nấm Sarocladium gây thối bẹ, nên ruộng bị nhện gié thường bị thối bẹ và lem lép hạt cùng lúc.

Điều kiện bùng phát ngược với nhiều lời đồn: trứng nhện nở 0% ở ẩm độ 70% nhưng nở 96% ở ẩm độ 100%, nghĩa là nhện gié thích nóng và ẩm trong bẹ lá, không phải nóng khô. Nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế, cùng Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM, đăng trên tập san Kết quả nghiên cứu Khoa học Bảo vệ thực vật năm 2023, đo được ở Thừa Thiên Huế vụ đông xuân 2021–2022: mật độ nhện lúc trổ tăng từ 11,3 con mỗi dảnh ở ruộng không bón đạm lên 56,3 con mỗi dảnh ở mức 180 kg đạm nguyên chất mỗi hecta, và tỷ lệ hạt có vết tăng từ 17,2% lên 24,9%. Tổng quan của Viện Nghiên cứu Lúa Hyderabad (Ấn Độ) năm 2008 thêm hai mốc: nhện phát triển tốt nhất ở 25 đến 28 độ C và gây hại nặng từ 80 ngày sau cấy, đỉnh ở 100 đến 120 ngày.

Cách làm: kiểm tra bẹ lá từ cuối đẻ nhánh, đặc biệt ruộng sạ dày và bón đạm nhiều; phun khi mới thấy vết cạo gió trên bẹ, trước trổ, và vạch hàng để thuốc vào tới bẹ. Giảm đạm, giữ nước nông ổn định và cày vùi gốc rạ sau thu hoạch (nhện sống qua vụ trong gốc rạ) làm giảm áp lực cho vụ sau nhiều hơn bất cứ lần phun nào.

Rệp Sáp Và Sâu Đục Cành Trên Cà Phê

Rệp sáp trên cà phê ưa khô. Khảo sát tại Đắk Lắk trình bày ở Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 7 năm 2011 cho thấy mật độ rệp trên đỉnh đồi từ 43 đến 59 con mỗi cành, so với 15 đến 37 con ở chân đồi, và một trận mưa 88 mm làm mật độ giảm 41 đến 52% sau một ngày, 61 đến 72% sau ba ngày. Nghiên cứu của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam tại Sơn La đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam năm 2012 thấy rệp xuất hiện từ cuối tháng tư, đỉnh cuối tháng sáu đến đầu tháng bảy trên cà phê chè, và cây trưởng thành nhiễm 48% so với khoảng 10% ở cây non. Thời điểm phun hợp lý là khi mới thấy ổ rệp ở vài chùm quả trong mùa khô, phun ướt đẫm chùm quả và nách cành, và cắt đường kiến vì kiến tha rệp đi khắp vườn.

Sâu đục cành, mọt đục cành Xylotrechus quadripes là chuyện khác. Tổng quan trên tạp chí Heliyon năm 2023 gọi đây là loài hại nghiêm trọng nhất trên cà phê chè ở nhiều nước Đông Nam Á, có vườn thiệt hại tới 80%, và nhấn mạnh tập tính của nó cho phép nó né thuốc phun. Sâu non nằm trong thân, nơi không giọt thuốc nào tới được; thuốc chỉ gặp con trưởng thành khi chúng bò ra đẻ trứng. Tổng quan của Ấn Độ trên International Journal of Tropical Insect Science năm 2012 ghi vòng đời một năm với hai đến ba đợt vũ hóa, và nghiên cứu tại Nepal năm 2025 thấy vườn không che bóng có nhiều trưởng thành hơn vườn che bóng. Vì vậy với sâu đục cành, phun thuốc đúng đợt vũ hóa, giữ cây che bóng, cạo vỏ thân và cắt bỏ cành bị đục mới là cả bộ giải pháp; chai thuốc chỉ là một phần.

Rầy Nâu: Chỗ Phải Cẩn Thận Nhất

Hỗn hợp này được đăng ký trừ rầy nâu, và nó diệt rầy nhanh. Nhưng rầy nâu là loài mà lịch sử đã dạy cả châu Á một bài học đắt giá về chính hai nhóm thuốc này. Tại Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) ở Philippines, hai nghiên cứu đăng trên Environmental Entomology năm 1982 đo được: phun pyrethroid decamethrin làm mật độ rầy nâu tăng tới 74 lần trên giống nhiễm so với ruộng không phun, và các thuốc lân hữu cơ như methyl parathion, diazinon cũng gây bùng phát tương tự, mạnh nhất ở liều cao, vì chúng diệt sạch bọ xít mù xanh, bọ xít nước và nhện bắt mồi. Một nghiên cứu khác của IRRI năm 1980 còn thấy liều dưới mức chết của cả hai nhóm kích thích rầy đẻ nhiều hơn.

Ở Việt Nam, nghiên cứu của Viện Bảo vệ Thực vật cùng Đại học Aarhus (Đan Mạch) trên PLoS ONE năm 2018, lấy mẫu rầy ở chín tỉnh từ 2015 đến 2017, thấy rầy nâu đã kháng ở mức thấp đến trung bình với tám hoạt chất phổ biến, và càng vào Nam mức nhạy càng giảm. Ý nghĩa thực hành: với rầy nâu, hỗn hợp này là thuốc dập dịch khi mật độ đã vượt ngưỡng (thường trên 3 con mỗi dảnh ở giai đoạn lúa làm đòng trở đi), phun một lần, vạch hàng phun vào gốc. Không phun phòng khi chưa có rầy, không phun lặp lại cùng nhóm, và không dùng trong 40 ngày đầu sau sạ khi thiên địch đang tích lũy. Lần sau, nếu còn rầy, đổi sang nhóm khác như thuốc điều hòa sinh trưởng côn trùng hoặc pymetrozine.

Cách Giữ Hỗn Hợp Này Hiệu Quả Qua Nhiều Vụ

Nhện đã dạy thế giới rằng fenpropathrin không phải vĩnh viễn. Đại học Quốc gia Seoul cùng Đại học Massachusetts, trên Pesticide Biochemistry and Physiology năm 2010, thấy một dòng nhện đỏ hai chấm kháng fenpropathrin bị hạ gục chậm hơn dòng mẫn cảm khoảng 104 lần, do đột biến ngay trên gen kênh natri. Ở các vườn cam Trung Quốc, bảy trong tám quần thể nhện đỏ cam thu ngoài đồng đã kháng fenpropathrin ở mức rất cao, cũng do đột biến kênh natri. Đan Mạch và Đức từ những năm 1990 đã giới hạn fenpropathrin ở hai đến ba lần phun mỗi vụ chính vì lý do này (JMPR 1993).

01
Phun khi có đối tượng, không phun lịch
Kiểm tra bẹ lá, chùm quả, cành trước khi quyết định. Phun phòng theo lịch là cách nhanh nhất để tạo quần thể kháng và diệt thiên địch không cần thiết.
02
Tối đa hai lần mỗi vụ, không hai lần liên tiếp
Theo cách Đan Mạch và Đức áp dụng cho fenpropathrin. Lứa sâu kế tiếp dùng nhóm cơ chế khác: abamectin hoặc spirotetramat cho nhện và rệp sáp, buprofezin hoặc pymetrozine cho rầy nâu.
03
Đếm cả những chai khác cùng nhóm
Cypermethrin, deltamethrin, lambda-cyhalothrin, etofenprox đều là nhóm 3A; chlorpyrifos, profenofos, dimethoate đều là nhóm 1B. Hai chai khác tên nhưng cùng nhóm thì tính là một lần.
04
Giữ thiên địch bằng cách phun đúng chỗ
Vạch hàng, phun vào bẹ và gốc lúa thay vì phun phủ mặt tán, phun chùm quả cà phê thay vì cả cây. Thuốc ít dính vào nhện bắt mồi và bọ rùa hơn, và hiệu quả trên đối tượng chính lại cao hơn.

Ưu Điểm Và Nhược Điểm

Ưu điểm
  • Trừ được cả nhện lẫn sâu trong một lần phun; fenpropathrin là một trong ít pyrethroid có hoạt tính trừ nhện (JMPR 2014).
  • Hai cơ chế thần kinh khác nhau (3A + 1B) nên sâu kháng một đường vẫn bị đường kia hạ.
  • Tác động nhanh, hợp để dập ổ dịch rệp sáp mùa khô hoặc nhện gié trước trổ.
  • Fenitrothion bay hơi nhẹ và fenpropathrin có tác dụng xua đuổi vài tuần, hỗ trợ ở những chỗ giọt phun phủ chưa đều.
Nhược điểm
  • Diệt mạnh thiên địch và có thể làm rầy nâu bùng phát (IRRI 1982). Cách khắc phục: chỉ dùng khi rầy vượt ngưỡng, một lần, không dùng trong 40 ngày đầu sau sạ.
  • Nhện có thể kháng fenpropathrin qua đột biến kênh natri. Cách khắc phục: tối đa hai lần mỗi vụ, luân phiên với abamectin hoặc spirotetramat.
  • Rất độc với cá, tôm và ong. Cách khắc phục: không phun gần ao, mương nuôi thủy sản, không phun lúc cây đang nở hoa có ong, không rửa bình ở kênh.
  • Không tới được sâu non đã nằm trong thân cà phê. Cách khắc phục: phun đúng đợt trưởng thành vũ hóa, cạo vỏ thân, cắt cành bị đục, giữ cây che bóng.
  • Dạng nhũ dầu có thể gây nóng lá khi phun quá liều lúc nắng gắt. Cách khắc phục: giữ đúng liều, phun sáng sớm hoặc chiều mát, lặng gió.

An Toàn Nếu Dùng Đúng

Cả hai hoạt chất nằm trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam theo Thông tư 75/2025. WHO xếp fenitrothion vào nhóm độc II, độc trung bình, với liều gây chết một nửa qua đường miệng trên chuột 1.700 mg/kg (WHO 2010); fenpropathrin có ADI 0 đến 0,03 mg/kg thể trọng mỗi ngày theo JMPR 2012. Điểm cần nhớ nhất là nước và ong: cơ sở dữ liệu PPDB của Đại học Hertfordshire (Anh) ghi fenpropathrin cực độc với cá và động vật không xương sống thủy sinh, và EPA Hoa Kỳ xếp nó vào loại thuốc hạn chế sử dụng cũng vì cá; fenitrothion có liều gây chết với ong chỉ 0,03 đến 0,04 microgam mỗi con (WHO 1992). Liên minh châu Âu đã không gia hạn hai hoạt chất này, fenpropathrin từ 2003 vì không có hồ sơ đăng ký, fenitrothion từ 2007 vì thiếu dữ liệu về sản phẩm phân hủy; đó là quyết định riêng của châu Âu. Mang găng, kính, khẩu trang và áo dài tay; pha ở nơi xa nguồn nước; giữ đúng thời gian cách ly in trên chai; cất thuốc xa thức ăn và tầm tay trẻ em.

Con nhện trong bẹ lúa và con rệp trong chùm quả đều sợ cùng một chai thuốc; thiên địch của chúng cũng vậy. Phun đúng chỗ, đúng lúc, là cách giữ cả hai bên.

Tìm Hiểu Sâu: Các Nghiên Cứu Đứng Sau Bài Này

Nơi nghiên cứu, năm Nội dung Kết quả chính
IRRI, Philippines; Environmental Entomology, 1982 Pyrethroid và lân hữu cơ trên rầy nâu và thiên địch Rầy tăng tới 74 lần sau phun decamethrin; methyl parathion, diazinon cũng gây bùng phát
Viện BVTV Việt Nam và Đại học Aarhus; PLoS ONE, 2018 Mức nhạy của rầy nâu ở 9 tỉnh với 8 hoạt chất, 2015–2017 Kháng thấp đến trung bình; càng vào Nam càng kém nhạy
Đại học Bang Louisiana và USDA; Crop Protection, 2009 Sinh học và thiệt hại của nhện gié Trứng nở 96% ở ẩm 100%, 0% ở ẩm 70%; thiệt hại 5–70% tùy vùng
Đại học Nông Lâm Huế; KQNC KH BVTV, 2023 Phân đạm và nhện gié trên giống Hà Phát 3 11,3 con/dảnh ở 0 N so với 56,3 con/dảnh ở 180 kg N/ha
Đại học Quốc gia Seoul; Pesticide Biochemistry and Physiology, 2010 Kháng fenpropathrin ở nhện đỏ hai chấm Chậm hạ gục 104 lần, đột biến gen kênh natri
Hội nghị Côn trùng học Quốc gia 7, Đắk Lắk, 2011 Điều kiện phát sinh rệp sáp trên cà phê Mưa 88 mm giảm mật độ 61–72% sau ba ngày; đỉnh đồi nhiều rệp hơn chân đồi
Đại học Cornell; Archives of Toxicology, 2012 Cơ chế pyrethroid trên kênh natri Pyrethroid loại II giữ kênh mở, dòng điện đuôi kéo dài
WHO, 2010 và 1992 Đặc tính và độc tính fenitrothion Bay hơi nhẹ, áp suất hơi tăng 5 lần từ 20 lên 30 °C; nhóm độc II

Chưa có nghiên cứu đồng ruộng công bố nào của các trường đại học Việt Nam thử riêng hỗn hợp fenpropathrin và fenitrothion trên nhện gié hoặc rệp sáp cà phê; hiệu lực đăng ký nằm trong hồ sơ của hãng. Các kết quả trên là về sinh học dịch hại, cơ chế và kháng thuốc, được nêu đúng như vậy.

Sản Phẩm Chứa Fenpropathrin Và Fenitrothion Tại Quốc Việt Agri

Quốc Việt Agri có một sản phẩm chứa đúng hỗn hợp này: Danitol-S 50EC của Sumitomo Chemical, chai 450 ml, fenitrothion 450 g/L và fenpropathrin 50 g/L, đăng ký tại Việt Nam cho ba cây trồng dưới đây.

Cây trồng Đối tượng đăng ký Liều dùng
Lúa Rầy nâu 40–60 ml cho bình 16 lít; vạch hàng, phun ướt đẫm thân và gốc lúa; chỉ khi rầy vượt ngưỡng
Lúa Nhện gié, bọ trĩ 33 ml cho bình 16 lít; phun kỹ vào bẹ lá trước trổ
Cà phê Rệp sáp, sâu đục cành, đục quả 33 ml cho bình 16 lít; phun ướt đẫm chùm quả, nách cành
Bông vải Rệp, sâu xanh, rầy xanh, bọ trĩ 33 ml cho bình 16 lít
IRAC 3A + 1B
Danitol-S 50EC (Sumitomo)
Hỗn hợp fenpropathrin 50 g/L + fenitrothion 450 g/L, chai 450 ml. Nhện gié, rầy nâu, bọ trĩ trên lúa; rệp sáp, sâu đục cành, đục quả trên cà phê; sâu hại bông vải. Tối đa hai lần mỗi vụ, luân phiên nhóm.
Xem sản phẩm →

Thời gian cách ly và số lần phun tối đa in trên chai; bà con đọc kỹ trước khi pha. Cây trồng của bà con không có trong ba cây đăng ký? Nhắn Zalo 096 994 2349 kèm ảnh dịch hại và tên cây, đội ngũ Quốc Việt Agri sẽ chỉ sản phẩm có đăng ký đúng cây đó thay vì đoán liều.

Nguồn Tham Khảo

  1. U.S. Environmental Protection Agency (2020). Fenpropathrin Interim Registration Review Decision, Case Number 7601. Office of Pesticide Programs, Washington DC. epa.gov.
  2. World Health Organization, International Programme on Chemical Safety (1992). Environmental Health Criteria 133: Fenitrothion. WHO, Geneva. inchem.org.
  3. World Health Organization (2010). WHO Specifications and Evaluations for Public Health Pesticides: Fenitrothion. WHO, Geneva. who.int.
  4. International Programme on Chemical Safety (1991). Health and Safety Guide No. 65: Fenitrothion. WHO, Geneva. inchem.org.
  5. FAO/WHO Joint Meeting on Pesticide Residues (2014). Fenpropathrin (185): residue evaluation. FAO, Rome. fao.org.
  6. FAO/WHO Joint Meeting on Pesticide Residues (1993). Fenpropathrin (186): residue evaluation. FAO, Rome. fao.org.
  7. FAO/WHO Joint Meeting on Pesticide Residues (2012). Report 2012, section 5.16 Fenpropathrin. FAO, Rome. fao.org.
  8. FAO/WHO Joint Meeting on Pesticide Residues (1974). Fenitrothion: pesticide residues in food 1974, monograph addendum. inchem.org.
  9. National Poisons Information Service (1998). Fenpropathrin: UKPID Monograph. IPCS INCHEM. inchem.org.
  10. Insecticide Resistance Action Committee (2019). Insecticide Resistance Management: Mode of Action Classification, 6th edition. IRAC International. irac-online.org.
  11. Soderlund, D.M. (2012). Molecular mechanisms of pyrethroid insecticide neurotoxicity: recent advances. Archives of Toxicology 86: 165–181. doi.org/10.1007/s00204-011-0726-x.
  12. Hummel, N.A., Castro, B.A., McDonald, E.M., Pellerano, M.A., Ochoa, R. (2009). The panicle rice mite, Steneotarsonemus spinki Smiley, a re-discovered pest of rice in the United States. Crop Protection 28: 547–560. greenhouse.ucdavis.edu.
  13. Jhansi Lakshmi, V., Krishnaiah, N.V., Pasalu, I.C., Katti, G. (2008). Bio-ecology and management of rice mites: a review. Agricultural Reviews 29(1): 31–39. Directorate of Rice Research, Hyderabad. arccjournals.com.
  14. Reissig, W.H., Heinrichs, E.A., Valencia, S.L. (1982). Insecticide-induced resurgence of the brown planthopper, Nilaparvata lugens, on rice varieties with different levels of resistance. Environmental Entomology 11(1): 165–168. doi.org/10.1093/ee/11.1.165.
  15. Heinrichs, E.A., Reissig, W.H., Valencia, S., Chelliah, S. (1982). Rates and effect of resurgence-inducing insecticides on populations of Nilaparvata lugens and its predators. Environmental Entomology 11(6): 1269–1273. doi.org/10.1093/ee/11.6.1269.
  16. Chelliah, S., Fabellar, L.T., Heinrichs, E.A. (1980). Effect of sub-lethal doses of three insecticides on the reproductive rate of the brown planthopper, Nilaparvata lugens, on rice. Environmental Entomology 9(6): 778–780. doi.org/10.1093/ee/9.6.778.
  17. Kwon, D.H., Clark, J.M., Lee, S.H. (2010). Cloning of a sodium channel gene and identification of mutations putatively associated with fenpropathrin resistance in Tetranychus urticae. Pesticide Biochemistry and Physiology 97(2): 93–100. doi.org/10.1016/j.pestbp.2009.07.009.
  18. Kariyanna, B., Xiong, Z., Pradnyarani, N., Kumaraswamy, S., Ramkumar, G., Subba Reddy, B.V., Zeng, X. (2023). Advance on the biology, behaviour ecology and management of the coffee white stem borer, Xylotrechus quadripes. Heliyon 9(9): e19506. doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e19506.
  19. Venkatesha, M.G., Dinesh, A.S. (2012). The coffee white stemborer Xylotrechus quadripes (Coleoptera: Cerambycidae): bioecology, status and management. International Journal of Tropical Insect Science 32(4): 177–188. wiki.pestinfo.org.
  20. Brun, L.O., Marcillaud, C., Gaudichon, V., Suckling, D.M. (1994). Cross resistance between insecticides in coffee berry borer, Hypothenemus hampei, from New Caledonia. Bulletin of Entomological Research 84(2): 175–178. wiki.pestinfo.org.
  21. Diepenbrock, L.M., Stansly, P.A., Stelinski, L.L., Burrow, J.D., Qureshi, J.A. (2019). Quick reference guide to citrus insecticides and miticides, ENY-854. UF/IFAS Extension. journals.flvc.org.
  22. University of California Statewide IPM Program (2018). Spider mites: UC IPM pest management guidelines, strawberry. ipm.ucanr.edu.
  23. University of Hertfordshire. Pesticide Properties DataBase: fenpropathrin; fenitrothion. sitem.herts.ac.uk/…/306; sitem.herts.ac.uk/…/299.
  24. European Commission (2007). Commission Decision 2007/379/EC concerning the non-inclusion of fenitrothion in Annex I to Council Directive 91/414/EEC. Official Journal L 141. legislation.gov.uk.
  25. European Commission (2002). Commission Regulation (EC) No 2076/2002 on the non-inclusion of certain active substances in Annex I to Directive 91/414/EEC. eur-lex.europa.eu.
  26. Dao Bach Khoa, Bui Xuan Thang, Nguyen Van Liem, Holst, N., Kristensen, M. (2018). Variation in susceptibility of eight insecticides in the brown planthopper Nilaparvata lugens in three regions of Vietnam 2015–2017. PLoS ONE 13(10): e0204962. Viện Bảo vệ Thực vật và Đại học Aarhus. doi.org/10.1371/journal.pone.0204962.
  27. Matsumura, M., Sanada-Morimura, S., Otuka, A., Sonoda, S., Dinh Van Thanh, Ho Van Chien, Phan Van Tuong, Phung Minh Loc, Liu, Z.-W., Zhu, Z.-R., Li, J.-H., Wu, G., Huang, S.-H. (2018). Insecticide susceptibilities of the two rice planthoppers Nilaparvata lugens and Sogatella furcifera in East Asia, the Red River Delta, and the Mekong Delta. Pest Management Science 74(2): 456–464. wiki.pestinfo.org.
  28. Trần Thị Hoàng Đông, Võ Hoàng Minh Thu, Lê Khắc Phúc, Lê Khắc Hoàng (2023). Ảnh hưởng của liều lượng phân đạm đến sự gây hại của nhện gié và năng suất trên giống lúa Hà Phát 3 tại Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu Khoa học Bảo vệ thực vật, số 1/2023. Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế; Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. csdlkhoahoc.hueuni.edu.vn.
  29. Lê Quốc Doanh, Đàm Quang Minh, Vũ Hồng Tráng (2012). Kết quả điều tra mức độ nhiễm rệp sáp trên cà phê chè ở Sơn La và thử nghiệm phòng trừ bằng một số thuốc hóa học. Tạp chí Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam 4(22): 74–79. Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. tapchi.vaas.vn.
  30. Nguyễn Thị Thủy, Phạm Thị Vượng, Lê Xuân Vị (2011). Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phát sinh, gây hại của loài rệp sáp mềm tua ngắn (Planococcus kraunhiae Kuwana) trên cây cà phê tại Đắk Lắk. Báo cáo khoa học Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 7: 706–711. sti.vista.gov.vn.

Câu Hỏi Thường Gặp

Fenpropathrin là gì?

Fenpropathrin là thuốc trừ sâu và trừ nhện nhóm cúc tổng hợp (pyrethroid loại II, IRAC 3A) do Sumitomo Chemical phát triển, tổng hợp lần đầu năm 1971 và thương mại hóa năm 1980. Thuốc giữ kênh natri của tế bào thần kinh mở lâu, làm sâu và nhện co giật rồi chết. Khác với phần lớn pyrethroid, nó trừ được nhiều loài nhện hại, nên được dùng cho nhện gié trên lúa và nhện trên cây ăn trái.

Fenitrothion là gì, có phải thuốc xông hơi không?

Fenitrothion là thuốc trừ sâu lân hữu cơ (IRAC 1B) được dùng từ năm 1959, ức chế men cholinesterase ở khe thần kinh của côn trùng. WHO mô tả nó bay hơi nhẹ và bốc hơi dần khỏi bề mặt đã phun, đó là nguồn gốc mùi hắc và lý do nhiều nhà vườn gọi là thuốc xông hơi. Hơi thuốc hỗ trợ ở những chỗ giọt phun chưa phủ hết, nhưng không thay được việc phun ướt đều vào bẹ lá hoặc chùm quả.

Hỗn hợp fenpropathrin và fenitrothion trị sâu gì?

Tại Việt Nam hỗn hợp này được đăng ký trừ nhện, rầy nâu, bọ trĩ trên lúa; sâu đục cành, sâu đục quả, rệp sáp trên cà phê; rệp, sâu xanh, rầy xanh, bọ trĩ trên bông vải. Hiệu quả nhất với nhện gié mới xuất hiện trước trổ và ổ rệp sáp đầu mùa khô. Với sâu đục cành cà phê, thuốc chỉ gặp con trưởng thành, nên cần kết hợp cạo vỏ thân và cắt cành bị đục.

Vì sao phun thuốc rầy nâu mà rầy lại nhiều hơn?

Vì cả pyrethroid lẫn lân hữu cơ diệt mạnh thiên địch của rầy như bọ xít mù xanh, nhện bắt mồi, và liều dưới mức chết còn kích thích rầy đẻ nhiều hơn. Các nghiên cứu của IRRI năm 1980 và 1982 đo được mật độ rầy tăng tới 74 lần sau phun pyrethroid. Vì vậy chỉ phun khi rầy vượt ngưỡng, một lần, vạch hàng phun vào gốc, không phun phòng, và không dùng trong 40 ngày đầu sau sạ.

Danitol-S pha bao nhiêu cho bình 16 lít?

Theo hướng dẫn trên trang sản phẩm: rầy nâu trên lúa 40 đến 60 ml cho bình 16 lít, vạch hàng phun ướt đẫm thân và gốc; nhện gié và bọ trĩ trên lúa 33 ml; rệp sáp, sâu đục cành, đục quả trên cà phê 33 ml, phun ướt đẫm chùm quả; sâu hại bông vải 33 ml. Thời gian cách ly và số lần phun tối đa in trên chai. Tối đa hai lần mỗi vụ rồi đổi nhóm thuốc.

Chưa chắc bẹ lúa bị nhện gié hay bị bệnh thối bẹ?

Gửi ảnh cận cảnh bẹ lá, bông lúa hoặc chùm quả cà phê, tên cây, giai đoạn và danh sách thuốc đã phun trong vụ. Đội ngũ Quốc Việt Agri sẽ đối chiếu nhóm thuốc đã dùng để gợi ý lần phun kế tiếp đúng nguyên tắc luân phiên.

Nhắn Zalo 096 994 2349

Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Fenpropathrin là gì?

Fenpropathrin là thuốc trừ sâu và trừ nhện nhóm cúc tổng hợp (pyrethroid loại II, IRAC 3A) do Sumitomo Chemical phát triển, tổng hợp lần đầu năm 1971 và thương mại hóa năm 1980. Thuốc giữ kênh natri của tế bào thần kinh mở lâu, làm sâu và nhện co giật rồi chết. Khác với phần lớn pyrethroid, nó trừ được nhiều loài nhện hại, nên được dùng cho nhện gié trên lúa và nhện trên cây ăn trái.

Fenitrothion là gì, có phải thuốc xông hơi không?

Fenitrothion là thuốc trừ sâu lân hữu cơ (IRAC 1B) được dùng từ năm 1959, ức chế men cholinesterase ở khe thần kinh của côn trùng. WHO mô tả nó bay hơi nhẹ và bốc hơi dần khỏi bề mặt đã phun, đó là nguồn gốc mùi hắc và lý do nhiều nhà vườn gọi là thuốc xông hơi. Hơi thuốc hỗ trợ ở những chỗ giọt phun chưa phủ hết, nhưng không thay được việc phun ướt đều vào bẹ lá hoặc chùm quả.

Hỗn hợp fenpropathrin và fenitrothion trị sâu gì?

Tại Việt Nam hỗn hợp này được đăng ký trừ nhện, rầy nâu, bọ trĩ trên lúa; sâu đục cành, sâu đục quả, rệp sáp trên cà phê; rệp, sâu xanh, rầy xanh, bọ trĩ trên bông vải. Hiệu quả nhất với nhện gié mới xuất hiện trước trổ và ổ rệp sáp đầu mùa khô. Với sâu đục cành cà phê, thuốc chỉ gặp con trưởng thành, nên cần kết hợp cạo vỏ thân và cắt cành bị đục.

Vì sao phun thuốc rầy nâu mà rầy lại nhiều hơn?

Vì cả pyrethroid lẫn lân hữu cơ diệt mạnh thiên địch của rầy như bọ xít mù xanh, nhện bắt mồi, và liều dưới mức chết còn kích thích rầy đẻ nhiều hơn. Các nghiên cứu của IRRI năm 1980 và 1982 đo được mật độ rầy tăng tới 74 lần sau phun pyrethroid. Vì vậy chỉ phun khi rầy vượt ngưỡng, một lần, vạch hàng phun vào gốc, không phun phòng, và không dùng trong 40 ngày đầu sau sạ.

Danitol-S pha bao nhiêu cho bình 16 lít?

Theo hướng dẫn trên trang sản phẩm: rầy nâu trên lúa 40 đến 60 ml cho bình 16 lít, vạch hàng phun ướt đẫm thân và gốc; nhện gié và bọ trĩ trên lúa 33 ml; rệp sáp, sâu đục cành, đục quả trên cà phê 33 ml, phun ướt đẫm chùm quả; sâu hại bông vải 33 ml. Thời gian cách ly và số lần phun tối đa in trên chai. Tối đa hai lần mỗi vụ rồi đổi nhóm thuốc.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog