Thán Thư Hại Điều: Phân Biệt Với Bọ Xít Muỗi Và Phun Đúng Lúc Ra Đọt, Ra Bông
Cuối tháng 10, vườn điều Đông Nam Bộ bắt đầu ra lứa đọt mới. Vài tuần sau, nhiều bà con thấy đọt non cháy đen, chùm bông khô lại. Người bảo do thán thư nên phun thuốc nấm, người bảo do bọ xít muỗi nên phun thuốc sâu. Phun một loại rồi mà vết đen vẫn lan thêm. Vậy làm sao biết vườn mình đang bị cái gì, và nên phun vào lúc nào?
Thán thư là bệnh do nấm Colletotrichum, hại lá non, đọt, chùm bông và trái non của cây điều, nặng nhất khi trời ấm, ẩm, sương mù. Bọ xít muỗi là côn trùng chích hút cùng những bộ phận đó. Vết bọ chích là những chấm nhỏ rời rạc, lúc đầu màu xám rồi thâm đen sau 8–10 giờ; vết thán thư là mảng nâu sẫm, hơi lõm, bóng, gặp trời ẩm có thể nổi bụi bào tử màu cam. Hai thứ hay đi cùng nhau, và thí nghiệm cho thấy nấm vào lá dễ hơn hẳn qua vết thương. Ở Đông Nam Bộ, giai đoạn cần canh kỹ là lúc ra đọt (tháng 10–12) đến ra hoa, đậu trái non (tháng 12–4).
Thán Thư Hại Điều Là Bệnh Gì?
Bệnh thán thư trên điều được ghi nhận lần đầu ở Brazil năm 1948. Gần 20 năm sau, một đợt dịch ở các đồn điền điều miền Nam Ấn Độ được mô tả trên tạp chí Indian Forester (1967): bệnh làm khô đọt, cành non và chùm hoa, để lại vết nâu sẫm bóng rồi chảy nhựa. Từ đó đến nay, thán thư vẫn là một trong những bệnh chính trên cây điều ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ.
Thủ phạm không phải một loài nấm mà là cả một nhóm. Khi lấy mẫu bệnh trên điều trồng và điều mọc hoang ở bốn vùng sinh thái của Brazil, Đại học Nông nghiệp Liên bang Pernambuco cùng Đại học Bang Louisiana tìm được 7 loài Colletotrichum, trong đó C. siamense gặp nhiều nhất (tạp chí Fungal Biology, 2018). Ở Việt Nam, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (IAS) ghi tác nhân là C. gloeosporioides. Với nhà vườn, điều quan trọng là cả nhóm nấm này có chung thói quen: ưa ấm, ưa ẩm và ưa mô non.
| Yếu tố | Điều nghiên cứu ghi nhận |
|---|---|
| Nhiệt độ | Nấm mọc, sinh bào tử và nảy mầm mạnh trong khoảng 25–33 °C (thí nghiệm của Brazil, Plant Pathology 2021) |
| Độ ẩm | 22–28 °C kèm ít nhất 10 giờ lá ướt là điều kiện nhiễm bệnh rất thuận lợi (tổng quan trên Frontiers in Plant Science, 2015) |
| Đường lây | Bào tử theo giọt mưa bắn lan; nấm tồn tại trên cành, lá bệnh khô còn trên cây và dưới gốc |
| Bộ phận dễ bệnh | Lá non nhiễm nặng hơn lá già; trái non 2 tuần tuổi nhiễm nặng hơn trái 8 tuần (Scientia Agricola, 2010) |
Thiệt hại có thể lớn. Trong một khảo sát nông dân ở Benin do Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Benin và các trường đại học trong nước thực hiện (European Scientific Journal, 2018), nông dân ước bệnh làm mất khoảng 72% sản lượng hạt ở vùng Savè và 55% ở vùng N'Dali. Đây là con số nông dân tự ước tính, không phải đo trong thí nghiệm, nhưng cho thấy vì sao vùng trồng điều nào cũng phải để mắt tới bệnh này.
Phân Biệt Thán Thư Với Vết Bọ Xít Muỗi
Cả hai đều làm đọt cháy đen, chùm bông khô và có thể làm cây chảy nhựa, nên rất dễ nhầm. Nhìn kỹ hình dạng vết và theo dõi vết thay đổi qua vài ngày sẽ thấy khác nhau.
| Dấu hiệu | Vết bọ xít muỗi | Thán thư |
|---|---|---|
| Hình dạng | Chấm chích nhỏ, tròn, nằm rời rạc; nhiều vết gần nhau thì đọt héo, teo lại | Mảng nâu sẫm, hơi lõm, bề mặt bóng, lan rộng dần |
| Diễn biến màu | Lúc đầu màu xám, sau 8–10 giờ chuyển thâm đen (Cục Bảo vệ thực vật) | Nâu sẫm ngay từ đầu, loang theo ngày |
| Khi trời ẩm | Vết khô, đóng vảy đen sau 2–3 ngày | Có thể nổi chấm bào tử nhầy màu cam trên vết bệnh |
| Có thấy con không | Bọ hoạt động sáng sớm, chiều mát; kiểm tra lúc đó dễ gặp con non và con trưởng thành | Không có côn trùng; bệnh nặng sau những đợt mưa, sương mù |
Chấm bào tử màu cam là dấu hiệu nghiêng về nấm, còn những chấm chích rời rạc nằm dọc gân lá, cuống bông là dấu hiệu nghiêng về bọ. Nhiều đọt mang cả hai loại vết. Một điểm nữa đáng biết: ở Mozambique, nhóm nghiên cứu của Đại học Pretoria (Nam Phi) theo dõi nhiều vụ và thấy tỷ lệ lá bị thán thư không dự báo được tỷ lệ hạt bị bệnh (Crop Protection, 2013). Lá đốm nhiều chưa chắc mất trái, mà lá sạch cũng chưa chắc trái không bị bệnh. Vì vậy cần xem trực tiếp chùm bông và trái non, không chỉ nhìn tán lá.
Vết Bọ Xít Muỗi Có Mở Đường Cho Thán Thư Không?
Quy trình quản lý bọ xít muỗi trên điều của Cục Bảo vệ thực vật (TBKT 01-116:2022/BVTV) ghi nhận nấm bệnh, trong đó có thán thư, phát triển từ các vết chích. Thí nghiệm trong phòng giải thích vì sao điều này hợp lý. Ở Brazil, cả 7 loài nấm thán thư đều gây bệnh trên lá điều bị làm xước, nhưng không loài nào gây được vết bệnh trên lá còn nguyên (Plant Pathology, 2021). Một thí nghiệm khác của Đại học Liên bang Alagoas (Brazil) và Viện Rothamsted (Anh) cũng thấy làm xước lá khiến mọi dòng điều đều nhiễm bệnh, kể cả những dòng chống chịu tốt khi lá còn lành (Scientia Agricola, 2010).
Ngoài đồng thì bằng chứng ít hơn. Bài tổng quan năm 2020 của Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Phát triển (CIRAD, Pháp) không tìm thấy thí nghiệm có đối chứng nào về bọ xít muỗi và nấm thán thư trên điều. Thí nghiệm đồng ruộng rõ nhất là ở vườn điều giống của Sri Lanka (Đại học Wayamba, 2006). Ở đó, chùm bông khô chủ yếu do bọ chích, sau đó một loài nấm khác (Lasiodiplodia) xâm nhập vào vết chích.
Tỷ lệ chùm bông điều bị khô sau 4 cách phun (Sri Lanka, 2006)
Thanh xanh là có thuốc trừ sâu, thanh đỏ là không có; cả khung là 20%.
Thuốc trừ sâu
3,79%
Thuốc trừ sâu, sau đó thuốc gốc đồng
5,22%
Chỉ thuốc gốc đồng
15,73%
Phun nước lã (đối chứng)
16,62%
Bài học cho vườn điều: vết chích là vết thương hở, và nấm, kể cả thán thư, vào qua vết thương dễ hơn nhiều. Nhưng chưa có thí nghiệm nào trên điều chứng minh bọ xít muỗi trực tiếp mang nấm thán thư đi lây. Nếu thấy vết chích của bọ, việc đầu tiên là giữ bọ dưới ngưỡng; thuốc nấm phun một mình không ngăn được chùm bông khô do bọ.
Phun Lúc Nào? Lịch Theo Mùa Điều Đông Nam Bộ
Bọ xít muỗi và thán thư cùng nhắm vào mô non, nên thời điểm cần canh trùng nhau. Theo nghiên cứu của Đại học Charles Darwin (Úc) và IAS tại các vườn ở Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu (Journal of Economic Entomology, 2014), điều ra hoa, đậu trái từ tháng 12 đến tháng 4, nghỉ và ra lá từ tháng 5 đến tháng 9. Ở Lâm Đồng, nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Viện Bảo vệ thực vật (2022) thấy bọ xít muỗi nhiều lên khi trời mát, ít nắng và ẩm; đó cũng là kiểu thời tiết nấm thán thư ưa.
Tháng 10–12 · Ra đọt non
Tỉa cành, dọn cành khô bệnh. Kiểm tra đọt 2–3 lần mỗi tuần vào sáng sớm. Phun thuốc trừ sâu khi 5–7% số đọt non bị chích; phun bảo vệ đọt bằng thuốc nấm khi gặp đợt mưa, sương mù kéo dài.
Tháng 12–2 · Nhú bông, ra hoa
Giai đoạn mất năng suất nặng nhất. Phun phòng thán thư cho chùm bông trước những ngày ẩm, sương mù. Khi hoa đang nở, không phun trước 9 giờ sáng để không ảnh hưởng thụ phấn.
Tháng 1–4 · Trái non
Trái non 2 tuần tuổi rất dễ nhiễm thán thư. Tiếp tục kiểm tra vết chích trên trái non; nếu vẫn còn hại, phun lại sau 7–10 ngày.
Ngưỡng 5–7% đọt non, trái non bị hại và khoảng cách 7–10 ngày là theo quy trình của Cục Bảo vệ thực vật. Ở Ấn Độ, Viện Nghiên cứu Điều quốc gia (ICAR) dùng ngưỡng 5–10%, và các thí nghiệm của Đại học Nông nghiệp Navsari phun 3 lần vào lúc ra đọt, ra hoa và đậu trái. Với thán thư, IAS khuyên phun ở giai đoạn đọt non, nụ và trái non, nhất là khi ẩm độ cao hoặc sương mù dày, và phun lại sau 3–5 ngày nếu trời vẫn ẩm.
Luân Phiên Thuốc Nấm Theo Nhóm FRAC
Ủy ban Hành động Chống Kháng thuốc nấm (FRAC) chia hoạt chất thành từng nhóm theo cách tác động. Dùng mãi một nhóm thì nấm dễ quen thuốc. Các hoạt chất đã đăng ký trừ thán thư trên điều ở Việt Nam thuộc những nhóm sau.
| Nhóm FRAC | Hoạt chất | Cách dùng hợp lý |
|---|---|---|
| M1 (gốc đồng) | Đồng oxychloride, hỗn hợp Bordeaux | Tiếp xúc, nhiều điểm tác động, ít nguy cơ kháng; phun phòng trước mưa |
| M3 | Mancozeb, propineb, ziram, thiram | Tiếp xúc, ít nguy cơ kháng; nền để luân phiên |
| 3 | Tebuconazole | Thấm vào mô; không dùng liên tục nhiều lần |
| 11 | Trifloxystrobin | Thấm vào mô; luôn đi với nhóm khác, không dùng liên tục |
Metalaxyl-M thuộc nhóm 4, chuyên trị nhóm nấm trứng như Phytophthora. Trong hỗn hợp metalaxyl-M với mancozeb, phần trừ thán thư chủ yếu đến từ mancozeb. Cũng cần nói thật: thí nghiệm đồng ruộng về thuốc trừ thán thư trên điều còn ít. Thí nghiệm năm 1992 của Viện Sinh học São Paulo (Brazil) phun 15 ngày một lần thấy mọi thuốc nấm đều tốt hơn không phun, gồm cả tebuconazole, nhưng các thuốc không khác nhau rõ. Vì vậy, đúng thời điểm và luân phiên nhóm quan trọng không kém việc chọn loại thuốc nào.
Chăm Vườn Để Giảm Bệnh Từ Gốc
- Tỉa cành, dọn vệ sinh: nấm tồn tại trên cành, chùm hoa khô; cắt bỏ và đưa ra khỏi vườn trước mùa ra đọt.
- Cho cây ra đọt đồng loạt: bón phân và tỉa cành đúng lúc giúp đọt ra cùng lứa, dễ bảo vệ hơn đọt lai rai.
- Giữ kiến vàng: trong nghiên cứu ở Bình Phước, Đồng Nai năm 2014, vườn có kiến vàng chỉ có 0,3–6,1% đọt bị bọ xít muỗi hại, so với 5,2–27% ở vườn không có kiến.
- Thông thoáng tán: tán thoáng giúp lá mau khô sau mưa, rút ngắn số giờ lá ướt mà nấm cần.
- Thuốc nấm tiếp xúc chỉ bảo vệ phần đã phủ thuốc. Cách khắc phục: phun phòng trước đợt mưa, sương mù; đọt mới ra sau lần phun cần lứa phun tiếp theo.
- Vết bệnh đã thành mảng không xanh lại. Cách khắc phục: cắt bỏ đọt, chùm bông bệnh nặng, phun bảo vệ phần còn lành.
- Thuốc nấm không trừ được bọ xít muỗi. Cách khắc phục: kiểm tra vết chích; vượt ngưỡng 5–7% thì phun thuốc trừ sâu đã đăng ký cho bọ xít muỗi trên điều.
- Thuốc trừ sâu nhóm cúc tổng hợp độc với ong. Cách khắc phục: hạn chế phun lúc hoa nở rộ; khi hoa nở thì phun sau 9 giờ sáng hoặc chiều mát.
- Mưa lớn rửa trôi thuốc. Cách khắc phục: chọn lúc trời ráo để phun; mưa ngay sau khi phun thì phun lại khi lá khô.
Sản Phẩm Trừ Thán Thư, Bọ Xít Muỗi Trên Điều Tại Quốc Việt Agri
Các sản phẩm dưới đây đều có đăng ký trên cây điều theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT. Liều cho cây điều của từng sản phẩm in trên bao bì; bà con pha đúng liều đó và luân phiên giữa các nhóm.
RIDOMIL GOLD 68WG: thán thư trên điều
Metalaxyl-M + mancozeb (nhóm 4 + M3). Trên điều pha 0,5–0,6% (80–96 g cho bình 16 lít), lượng nước 600–1.000 lít/ha, phun khi bệnh mới xuất hiện, cách ly 14 ngày.
Xem sản phẩm →COC 85 WP: thán thư trên điều
Đồng oxychloride 85% (nhóm M1). Trên điều pha 40–60 g cho bình 16 lít. Hợp để phun phòng trước các đợt mưa, sương mù.
Xem sản phẩm →NATIVO 750WG: thán thư trên điều
Trifloxystrobin + tebuconazole (nhóm 11 + 3), thấm vào mô lá. Dùng xen với thuốc nhóm M1, M3, không phun liên tục nhiều lần.
Xem sản phẩm →ANTRACOL 70WP, ZIPRA 80WP, BORDEAUX M 25WP: thán thư trên điều
Propineb (M3), ziram + thiram (M3) và hỗn hợp Bordeaux (M1): các thuốc tiếp xúc để làm nền luân phiên. Xem Antracol 70WP, Zipra 80WP, Bordeaux M 25WP.
KARATE 2.5EC và SHERBUSH 25EC: bọ xít muỗi, bọ xít trên điều
Karate 2.5EC (lambda-cyhalothrin) đăng ký trừ bọ xít muỗi trên điều; Sherbush 25EC (cypermethrin) đăng ký trừ bọ xít trên điều. Phun khi vượt ngưỡng 5–7% đọt, trái non bị chích. Đọc thêm: Bọ xít muỗi hại điều: nhận biết và phun đúng lúc
Xem Karate 2.5EC → Xem Sherbush 25EC →Kết Luận
Đọt điều cháy đen không phải lúc nào cũng do một nguyên nhân. Nhìn hình dạng vết, theo dõi màu vết qua vài giờ và tìm chấm bào tử cam sau mưa sẽ cho biết vườn đang bị bọ, bị nấm hay cả hai. Lứa đọt cuối tháng 10 này là lúc bắt đầu canh: giữ bọ xít muỗi dưới ngưỡng để mô non ít vết thương, phun phòng thán thư trước những ngày ẩm, và giữ chùm bông sạch cho tới khi trái non qua tuần tuổi dễ bệnh nhất.
Nguồn Tham Khảo
- Veloso, J.S., Câmara, M.P.S., Lima, W.G., et al. (2018). Why species delimitation matters for fungal ecology: Colletotrichum diversity on wild and cultivated cashew in Brazil. Fungal Biology 122(7): 677–691. doi.org/10.1016/j.funbio.2018.03.005
- Veloso, J.S., Lima, W.G., Reis, A., et al. (2021). Factors influencing biological traits and aggressiveness of Colletotrichum species associated with cashew anthracnose in Brazil. Plant Pathology 70(1): 167–180. doi.org/10.1111/ppa.13276
- Queijeiro López, A.M., Lucas, J.A. (2010). Reaction of dwarf cashew clones to Colletotrichum gloeosporioides isolates in controlled environment. Scientia Agricola 67(2): 228–235. doi.org/10.1590/S0103-90162010000200016
- Lopez, A.M.Q., Lucas, J.A. (2010). Colletotrichum isolates related to anthracnose of cashew trees in Brazil. Brazilian Archives of Biology and Technology 53(4): 741–752. doi.org/10.1590/S1516-89132010000400001
- Monteiro, F., Romeiras, M.M., Figueiredo, A., et al. (2015). Tracking cashew economically important diseases in the West African region using metagenomics. Frontiers in Plant Science 6: 482. doi.org/10.3389/fpls.2015.00482
- Uaciquete, A., Korsten, L., Van der Waals, J.E. (2013). Epidemiology of cashew anthracnose (Colletotrichum gloeosporioides Penz.) in Mozambique. Crop Protection 49: 66–72. doi.org/10.1016/j.cropro.2013.02.016
- Houndahouan, D.E.T., Zannou, A., Sikirou, R., et al. (2018). Les pertes économiques dues à l'anthracnose de l'anacardier au Bénin. European Scientific Journal 14(15): 127. doi.org/10.19044/esj.2018.v14n15p127
- Ratnadass, A., Deguine, J.-P. (2020). Three-way interactions between crop plants, phytopathogenic fungi, and mirid bugs. A review. Agronomy for Sustainable Development 40: 46. CIRAD. doi.org/10.1007/s13593-020-00652-1
- Gunasekara, M.P.N.I., Ranaweera, B., Kelaniyangoda, D.B. (2006). Effect of Helopeltis bug on inflorescence blight of cashew in Elluwankulama seed garden and identification of pathogen/s. Proceedings of the 6th Agricultural Research Symposium, Wayamba University of Sri Lanka: 201–204. repository.wyb.ac.lk
- Peng, R., Lan, L.P., Christian, K. (2014). Weaver ant role in cashew orchards in Vietnam. Journal of Economic Entomology 107(4): 1330–1338. doi.org/10.1603/EC14039
- Singh, S., Sehgal, H.S., Pandey, P.C., Bakshi, B.K. (1967). Anthracnose disease of cashew: its cause, epidemiology and control. Indian Forester 93(6): 374–376. doi.org/10.36808/if/1967/v93i6/25615
- Nogueira, E.M.C., Santos, A.J.T., Chiba, S. (1993). Avaliação de fungicidas no controle da antracnose em cajú. Fitopatologia Brasileira 18 (suppl.). Instituto Biológico, São Paulo. alice.cnptia.embrapa.br (PDF)
- Patel, R.B., Patel, D.R., Makati, J.P., Patel, R.R. (2018). Evaluation of insecticides against pest complex of cashew. International Journal of Economic Plants 5(1): 36–39. Navsari Agricultural University. ojs.pphouse.org
- ICAR-Directorate of Cashew Research, Puttur. Tea mosquito bug. cashew.icar.gov.in
- Cục Bảo vệ thực vật (2022). Quy trình quản lý tổng hợp bọ xít muỗi hại cây điều tại Lâm Đồng và phụ cận, TBKT 01-116:2022/BVTV. ppd.gov.vn (PDF)
- Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam (2018). Hiện trạng mùa vụ điều tháng 1/2018. iasvn.org (PDF)
- Khảm, D.V., Dũng, L.T., Khánh, Đ.Q., Yến, D.H. (2022). Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sự phát sinh bọ xít muỗi trên cây điều tỉnh Lâm Đồng. Tạp chí Khí tượng Thủy văn 736: 1–11. tapchikttv.vn
- CropLife Australia (2026). Fungicide activity group table. croplife.org.au (PDF)
Câu Hỏi Thường Gặp
Bệnh thán thư trên cây điều do đâu?
Do nhóm nấm Colletotrichum. Nghiên cứu ở Brazil tìm được 7 loài trên điều, nhiều nhất là C. siamense; ở Việt Nam thường ghi là C. gloeosporioides. Nấm ưa ấm 25–33 °C, lá ướt lâu và mô non như đọt, chùm bông, trái non.
Làm sao phân biệt thán thư với bọ xít muỗi trên điều?
Vết bọ xít muỗi là chấm chích nhỏ, rời rạc, lúc đầu màu xám rồi thâm đen sau 8–10 giờ. Vết thán thư là mảng nâu sẫm, hơi lõm, bóng, lan dần và có thể nổi bào tử màu cam khi trời ẩm. Một đọt có thể mang cả hai.
Khi nào nên phun thuốc trừ thán thư cho điều?
Phun phòng ở giai đoạn ra đọt non, nhú bông và trái non, nhất là trước hoặc trong những đợt mưa, sương mù. Ở Đông Nam Bộ, đó là khoảng tháng 10 đến tháng 4. Khi hoa đang nở, không phun trước 9 giờ sáng.
Bọ xít muỗi có làm cây điều dễ bị thán thư không?
Có khả năng. Thí nghiệm cho thấy nấm thán thư nhiễm vào lá điều bị xước dễ hơn hẳn lá lành, và Cục Bảo vệ thực vật ghi nhận nấm bệnh phát triển từ vết chích. Tuy vậy chưa có thí nghiệm ngoài đồng chứng minh bọ trực tiếp mang nấm thán thư đi lây.
Ngưỡng phun bọ xít muỗi trên điều là bao nhiêu?
Theo quy trình của Cục Bảo vệ thực vật, phun khi 5–7% đọt non hoặc trái non trên tán bị chích. Nếu vẫn còn hại, phun lại sau 7–10 ngày và luân phiên hoạt chất.
Đội Chuyên Môn Quốc Việt Agri
Chưa chắc vườn bị bọ hay bị nấm?
Chụp cận đọt non, chùm bông hoặc trái non đang bị đen rồi gửi qua Zalo, đội ngũ Quốc Việt Agri xem và chia sẻ thông tin cùng bà con.
Nhắn Zalo · 096 994 2349Phản hồi sớm nhất sau khi đội ngũ Quốc Việt Agri nhận tin · 6:00–20:00
Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM