Flonicamid là gì: bọ phấn trắng trưởng thành, trứng và ấu trùng ở mặt dưới lá, ảnh bìa Quốc Việt Agri

Flonicamid Là Gì? EXAMI 20WG, BITHRIN 15SC Trị Rầy, Rệp, Bọ Phấn Thế Nào

Phun xong mà rầy vẫn bám trên lá, có phải thuốc không ăn? Với flonicamid thì chưa chắc: rầy, rệp muội, bọ phấn trắng hút phải thuốc ngừng chích hút trong khoảng 30 phút rồi chết đói sau đó, nên có thể vẫn bám trên cây cho tới khi khô xác. Flonicamid thuộc nhóm IRAC 29, được phép sử dụng tại Việt Nam; không trị sâu ăn lá, nhện. EXAMI 20WG (flonicamid 20%) đăng ký rầy nâu hại lúa, cách ly 7 ngày; BITHRIN 15SC (bifenthrin 5% + flonicamid 10%) đăng ký bọ phấn trắng hại sắn, rầy xanh hại lạc, rệp muội hại đậu tương.

Chiều phun thuốc rầy, sáng hôm sau ra ruộng vạch gốc lúa vẫn thấy rầy nâu bám nguyên chỗ cũ. Ngoài nương mì, bọ phấn vẫn đậu kín mặt dưới lá; trên đọt đậu, rệp vẫn bu thành đám. Phản xạ quen thuộc là nghĩ thuốc không ăn, pha thêm và phun lại.

Nhưng nếu hoạt chất vừa phun là flonicamid, rất có thể những con côn trùng đó đã thôi hút nhựa từ khoảng nửa giờ sau khi trúng thuốc. Chúng chưa rơi xuống, và cây đã được bảo vệ. Vì sao lại như vậy? Để trả lời trọn câu hỏi này, các nhà khoa học đã mất 30 năm.

Trả lời nhanh

Flonicamid là hoạt chất trừ côn trùng chích hút (nhóm IRAC 29): rầy, rệp muội, bọ phấn trắng và một số loài bọ trĩ. Côn trùng hút phải nhựa có thuốc thì ngừng chích hút trong khoảng 30 phút, không co giật, rồi chết đói sau đó. Thuốc lưu dẫn trong cây và thấm từ mặt trên sang mặt dưới lá.

Phun xong vẫn thấy con bám là bình thường. Đánh giá sau 3–5 ngày bằng đọt non (không xoăn thêm) và mật mới, đừng vội phun lại hay tăng liều.

Không trị: sâu ăn lá, bọ cánh cứng, ruồi và nhện đỏ. Flonicamid được phép sử dụng tại Việt Nam; tùy chai, đã đăng ký trừ rầy nâu (lúa), rầy xanh (lạc), bọ phấn trắng (sắn), rệp muội (đậu tương, ngô)…

Ở Quốc Việt Agri, hoạt chất này có trong EXAMI 20WG (flonicamid 20%) và BITHRIN 15SC (bifenthrin 5% + flonicamid 10%); đăng ký và cách chọn từng chai ở mục sản phẩm cuối bài.

Vì Sao Phun Xong Rầy, Rệp Vẫn Bám Trên Cây?

Người quen dùng thuốc tiếp xúc thường chấm điểm thuốc bằng mắt: phun xong, sáng hôm sau rầy rụng đầy gốc là "thuốc ăn". Cách nhìn này hợp với nhiều thuốc tác động lên thần kinh, vốn làm côn trùng co giật rồi rơi. Với flonicamid, nó dẫn tới một kết luận sai, và lời giải bắt đầu từ một phòng thí nghiệm ở Nhật Bản.

Năm 1992: Ishihara Sangyo Kaisha Tìm Ra Flonicamid

Năm 1992, các nhà hóa học của Ishihara Sangyo Kaisha, một công ty hóa chất Nhật Bản, đang sàng lọc các hợp chất pyridine mang nhóm trifluoromethyl (một nguyên tử carbon gắn ba nguyên tử flo). Hợp chất dẫn đầu chỉ trừ rệp đào ở mức trung bình, nhưng có một điểm đáng giá: nó đi vào cây và theo nhựa lên ngọn.

Họ tổng hợp hàng loạt dẫn xuất và tìm ra một điều kiện bắt buộc: nhóm trifluoromethyl phải nằm ở vị trí số 4 của vòng pyridine. Hợp chất cuối cùng được đặt tên flonicamid, đăng ký ở Nhật năm 2006, và tới đầu năm 2014 đã có mặt ở 41 nước (Journal of Pesticide Science, 2014).

Năm 2007: Ghi Tín Hiệu Chích Hút Của Từng Con Rệp

Điều làm các nhà nghiên cứu chú ý là cách con rệp chết. Năm 2007, nhóm nghiên cứu của chính Ishihara nối từng con rệp vào một thiết bị ghi tín hiệu điện mỗi khi nó cắm vòi vào lá và hút nhựa, rồi công bố trên tạp chí Pest Management Science. Kết quả:

  • Thôi ăn rất nhanh: rệp ngừng chích hút trong vòng nửa giờ sau khi trúng thuốc, không có dấu hiệu co giật, và không hồi phục cho tới khi chết.
  • Vòi vẫn chạm lá: con rệp vẫn áp đầu vòi xuống mặt lá, nhưng việc nhả nước bọt và hút nhựa bị chặn gần như hoàn toàn.
  • Ảnh hưởng cả lứa sau: rệp non sinh ra từ rệp mẹ đã tiếp xúc thuốc 3 giờ cũng chết với tỷ lệ cao.

Nghĩa là con rệp chết vì đói và mất nước, muộn hơn nhiều so với lúc nó thôi gây hại. Hướng dẫn sử dụng flonicamid 50WG được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (EPA) chấp thuận ghi đúng điều này: rệp và các côn trùng khác có thể vẫn còn trên cây cho tới khi khô xác.

Flonicamid không làm rầy rơi xuống. Nó làm rầy thôi ăn.

Còn một câu hỏi Ishihara chưa trả lời được: thuốc chạm vào bộ phận nào khiến con rệp vẫn đứng đó mà không cắm vòi vào lá được nữa? Trước khi tới câu trả lời, hãy xem điều này đổi cách đánh giá thuốc ngoài ruộng ra sao.

Làm Sao Biết Flonicamid Đã Có Tác Dụng?

Côn trùng thôi hút trước, chết sau. Hiểu điều đó rồi thì cách đánh giá gần như tự suy ra: nhìn vào cây, đừng đếm xác.

  • Đọt non mới ra không xoăn, không quăn thêm, lá non không thêm vết chích.
  • Ít mật mới: rầy, rệp ngừng hút thì cũng ngừng thải dịch ngọt (mật). Ở rầy nâu, các phòng thí nghiệm ở Trung Quốc đã đo được lượng mật thải ra giảm rõ sau khi tiếp xúc flonicamid (xem Tìm Hiểu Sâu).
  • Con trúng thuốc chậm chạp, bám im, sau vài ngày khô xác dần.
  • Không phun lại dồn dập: hướng dẫn của EPA nói trên yêu cầu các lần phun cách nhau tối thiểu 7 ngày. Nếu sau một tuần vẫn có nhiều con non mới nở và cây tiếp tục bị hại, gửi ảnh qua Zalo 096 994 2349 trước khi phun tiếp.

Mốc 3–5 ngày là lúc nên ra ruộng xem lại. Một lần phun lại không cần thiết là thêm tiền thuốc, thêm công phun, mà cây không được gì hơn.

Flonicamid Trị Được Côn Trùng Nào, Không Trị Được Gì?

Trong thử nghiệm của nhà phát triển, flonicamid rất mạnh với rệp muội, mọi loài, mọi tuổi, và có hiệu quả với một số côn trùng chích hút khác. Sâu ăn lá thì không bị ảnh hưởng. Phổ hẹp này là điểm mạnh khi dùng đúng, và là lý do thuốc không thay được thuốc trừ sâu ăn lá.

Nhóm côn trùng Flonicamid Ghi chú
Rệp muội (rệp bông, rệp đào, rệp đậu) Hiệu quả cao Mọi loài, mọi tuổi rệp trong thử nghiệm của nhà phát triển
Bọ phấn trắng Hiệu quả Tác động chậm, kéo dài; xem thí nghiệm ở Crete (Hy Lạp)
Rầy nâu, rầy xanh Hiệu quả Trong danh sách mục tiêu của nhà phát triển; tại Việt Nam đã đăng ký rầy nâu (lúa), rầy xanh (lạc)
Bọ trĩ Một số loài Xem mục bọ trĩ ngay dưới
Sâu ăn lá, bọ cánh cứng, ruồi, nhện Không trị Cần nhóm thuốc khác

Theo tổng kết nghiên cứu và phát triển flonicamid của Ishihara Sangyo Kaisha (Nhật Bản), Journal of Pesticide Science 2014, và nghiên cứu trên bọ phấn ở Crete, Pest Management Science 2014.

Rệp sáp: tại Việt Nam, một số thuốc có flonicamid đã đăng ký trừ rệp sáp bột hồng hại sắn và rệp sáp hại cà phê, nhưng không phải chai nào cũng có. Lớp sáp phủ ngoài cũng làm thuốc khó bám, nên với rệp sáp cần chọn đúng chai đã đăng ký và phun kỹ vào kẽ lá, kẽ cành.

Flonicamid Có Trị Bọ Trĩ Không?

Có, nhưng không phải lựa chọn hàng đầu cho mọi loài. Nhà phát triển thuốc ghi nhận flonicamid hiệu quả với bọ trĩ chè vàng (Scirtothrips dorsalis), loài hay hại đọt xoài, ớt, chè. Tại Việt Nam, flonicamid mới được đăng ký trừ bọ trĩ trên hoa cúc và hoa hồng. Với bọ trĩ hại lúa, dưa, ớt, sầu riêng, nên chọn thuốc đã đăng ký đúng cây, đúng con; cách nhận biết và luân phiên ở bài Bọ Trĩ Là Gì? Cách Nhận Biết Và Trị Bọ Trĩ.

Cách Dùng Flonicamid An Toàn Và Hiệu Quả

Hai điều đã biết ở trên quyết định cách phun: thuốc chặn việc hút nhựa, nên phun sớm thì cứu được nhiều đọt hơn; thuốc đi theo mạch nhựa lên phía ngọn và thấm xuyên lá, nên đọt non mọc sau và con nấp mặt dưới lá vẫn trúng thuốc.

01
Phun khi mật số còn thấp, con non mới nở
Rầy, rệp, bọ phấn sinh sản rất nhanh. Phun lúc mới phát hiện con non trên đọt và mặt dưới lá thì thuốc kịp chặn trước khi lứa sau bùng lên. Cách đếm mật số rầy nâu và ngưỡng phun ở bài Rầy Nâu Trên Lúa: Ngưỡng Phòng Trừ.
02
Phun ướt đều, chú ý mặt dưới lá và đọt non
Thuốc thấm từ mặt trên sang mặt dưới lá và lưu dẫn lên ngọn, nhưng phun đều vẫn quyết định hiệu quả. Với lúa, hướng béc vào phần gốc khóm lúa, nơi rầy nâu tập trung.
03
Đong đúng lượng của chai đang dùng
Mỗi chai có nồng độ và hỗn hợp khác nhau (có chai flonicamid đơn, có chai trộn thêm hoạt chất khác), nên lượng pha mỗi bình khác nhau. Luôn đong theo hướng dẫn của đúng chai đang dùng.
04
Ra ruộng xem lại sau 3–5 ngày
Xem đọt non, mật mới và con non như mục trên. Đừng tăng liều hay phun chồng chỉ vì côn trùng còn bám.

Theo tổng kết của nhà phát triển thuốc, ở liều thử nghiệm hiệu lực với rệp kéo dài 3–4 tuần. Ngoài đồng, mưa lớn, cây ra đọt mạnh và rầy từ ruộng bên cạnh bay sang có thể rút ngắn thời gian này.

Flonicamid Khác Pymetrozine Thế Nào?

Cả hai đều được gọi là thuốc "khóa miệng": côn trùng ngừng chích hút rồi chết đói. Triệu chứng giống nhau tới mức trong nhiều năm, IRAC (tổ chức quốc tế phân nhóm cơ chế thuốc trừ sâu) xếp flonicamid vào nhóm thuốc tác động lên cơ quan cảm giác của côn trùng, kèm ghi chú "chưa xác định được đích". Ngày nay hai hoạt chất nằm ở hai nhóm khác nhau: pymetrozine nhóm 9B, flonicamid nhóm 29. Chi tiết về pymetrozine ở bài Pymetrozine Là Gì?.

  • Về luân phiên: đổi từ flonicamid sang pymetrozine là đổi nhóm IRAC, dùng được cho lứa sau. Vì hai thuốc cùng làm rối một bộ phận cảm giác, đội ngũ Quốc Việt Agri khuyên không phun hai thuốc này nối tiếp lên cùng một lứa côn trùng; với rầy nâu, nên xen một nhóm hoàn toàn khác ở giữa (xem lịch luân phiên).
  • Về bọ phấn, rệp muội: cả hai đều có tác dụng; flonicamid đặc biệt mạnh trên rệp muội.

Vì sao hai thuốc giống nhau ngoài ruộng mà lại khác nhóm? Câu trả lời nằm ở cuộc đi tìm đích tác động phía dưới, sau phần an toàn.

An Toàn Khi Pha Và Phun Flonicamid

An toàn

Theo dữ liệu quốc tế (PPDB), flonicamid độc mức trung bình với người nếu nuốt phải, độc thấp với cá và giun đất, độc thấp với ong khi tiếp xúc (liều gây chết một nửa số ong trên 100 microgam mỗi con), và phân hủy nhanh trong đất (thời gian bán phân hủy điển hình dưới 1 ngày).

  • Mang găng tay, khẩu trang, kính và áo dài tay khi pha, phun; tắm rửa, thay đồ sau khi phun.
  • Chai có trộn thêm thuốc cúc tổng hợp (như bifenthrin) thì rất độc với cá và ong: không phun lúc cây đang nở hoa có ong, không rửa bình xuống ao, mương.
  • Cất thuốc kín, nơi khô mát, xa trẻ em, thức ăn và vật nuôi.
  • Thời gian cách ly trước thu hoạch theo đúng chai đang dùng.

Tìm Hiểu Sâu: 30 Năm Đi Tìm Đích Tác Động Của Flonicamid

Tới năm 2007, Ishihara biết thuốc làm gì nhưng chưa biết thuốc chạm vào đâu. Các thử nghiệm của công ty chỉ loại trừ được những đích quen thuộc: thuốc không tác động lên men acetylcholinesterase, kênh natri hay thụ thể nicotinic, tức là khác hẳn lân hữu cơ, cúc tổng hợp và neonicotinoid. Hơn mười năm sau, các nhóm nghiên cứu ở Trung Quốc, Đức và Mỹ lần lượt đưa ra câu trả lời.

2018: Giả Thuyết Kênh Kali Ở Nam Kinh

Các nhà khoa học Đại học Nông nghiệp Nam Kinh (Trung Quốc) nhìn vào rầy nâu. Họ công bố trên tạp chí Insect Biochemistry and Molecular Biology rằng flonicamid khóa kênh kali Kir1 của rầy ở nồng độ rất thấp (cỡ nanomol). Kênh kali là những "cửa" nhỏ cho ion kali đi qua màng tế bào; tuyến nước bọt và cơ quan bài tiết của côn trùng cần chúng để tiết dịch. Rầy trúng thuốc tiết ít nước bọt và thải ít mật hơn.

Giả thuyết rất hợp lý: không có nước bọt thì vòi khó đi vào mạch nhựa. Nhóm nghiên cứu cho rằng đây chính là đích của thuốc. Nhưng bốn năm sau, một thí nghiệm trên châu chấu ở Đức chỉ sang hướng khác.

2022: Göttingen Phát Hiện Flonicamid Là Tiền Chất

Các nhà khoa học Đại học Göttingen (Đức), cùng nhà nghiên cứu của BASF và Bayer, thử flonicamid trên châu chấu và ruồi giấm, công bố trên Pest Management Science. Châu chấu trúng thuốc duỗi thẳng chân sau; ruồi giấm mất khả năng bò ngược lên trên. Cả hai triệu chứng chỉ về một bộ phận: cơ quan dây chằng.

Cơ quan dây chằng là những cụm tế bào cảm nhận độ căng giãn, nằm ở khớp chân, ở râu và nhiều chỗ khác trên cơ thể côn trùng. Giống sợi cước căng trên cần câu: chỉ cần rung nhẹ là tay người câu cảm nhận được. Nhờ chúng, côn trùng biết chân đang co hay duỗi, biết đâu là phía trên, cảm được rung động.

Rồi tới chi tiết bất ngờ nhất của câu chuyện. Bản thân flonicamid chỉ tác động rất yếu lên cơ quan dây chằng của châu chấu. Chất làm việc thật sự là TFNA-AM, chất mà cơ thể côn trùng tạo ra khi chuyển hóa flonicamid; TFNA-AM kích thích mạnh cơ quan này ở cả châu chấu lẫn ruồi giấm, giống hệt pymetrozine. Nói cách khác, thứ được phun lên lá là một "tiền chất": chính con côn trùng hút thuốc vào rồi tự biến nó thành chất làm mình thôi ăn.

Các nghiên cứu này chưa giải thích trọn vẹn vì sao rối loạn cơ quan cảm giác lại làm côn trùng ngừng cắm vòi. Nhưng chúng cho thấy flonicamid và pymetrozine đánh vào cùng một bộ phận. Vẫn còn câu hỏi: TFNA-AM khóa phân tử nào bên trong các tế bào đó?

Chiết Giang Và California: Tìm Ra Men Bị Khóa

Cùng năm, các nhà khoa học Đại học Chiết Giang (Trung Quốc) và Đại học California Santa Barbara (Mỹ) công bố trên Science Advances: TFNA-AM khóa men nicotinamidase, một men nằm ngay trong các tế bào cảm giác căng giãn. Men này bình thường phân giải nicotinamide; khi bị khóa, nicotinamide ứ lại trong tế bào và khả năng bò ngược lên của ruồi giấm giảm mạnh. Ruồi giấm được tạo đột biến một điểm trong men này thì kháng thuốc và mất khả năng cảm nhận trọng lực.

Sau phát hiện này, IRAC đặt tên nhóm 29 là "chất ức chế nicotinamidase ở cơ quan dây chằng", theo men nicotinamidase chứ không theo kênh kali. Còn pymetrozine (9B) tác động lên kênh ion TRPV trong cùng cơ quan. Hai thuốc chung một bộ phận, khác nhau ở phân tử bị đánh trúng: đó là lý do chúng khác nhóm, và cũng là lý do không nên phun nối tiếp hai thuốc này lên cùng một lứa côn trùng.

Vì Sao Ong Mật Chịu Được Flonicamid?

Cũng nghiên cứu ở Chiết Giang và California tìm ra lời giải cho một câu hỏi thực tế: trong bộ gen loài ong, gen nicotinamidase đã nhân đôi và tạo ra một dạng men mà TFNA-AM không khóa được. Động vật có xương sống, kể cả người, hoàn toàn không có gen nicotinamidase. Hai điều này giải thích một phần vì sao thuốc làm rầy, rệp chết đói lại tương đối nhẹ với ong; với người, thuốc vẫn độc mức trung bình nếu nuốt phải, nên đồ bảo hộ vẫn cần đủ.

  • Ong ngoài đồng: năm 2022, Trung tâm Nghiên cứu Ong Carl Hayden (Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ) công bố trên Insects: 18 đàn ong được theo dõi liên tục 6 tuần, trong đó 12 đàn ăn siro chứa flonicamid (50 và 250 ppb, mức từng đo được trong mật ong) và 6 đàn đối chứng; không thấy khác biệt về kiếm mồi, tăng cân của tổ hay giữ nhiệt.
  • Thiên địch của bọ phấn: năm 2014, Quỹ Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc gia Hy Lạp và Đại học Crete công bố trên Pest Management Science: flonicamid diệt 95% bọ phấn sau 10 ngày trong lồng thí nghiệm, làm chậm quần thể khoảng một thế hệ (32 ngày) và kéo dài thời gian phát triển của ấu trùng thêm hơn 7 ngày. Ong ký sinh Eretmocerus eremicus trưởng thành không bị ảnh hưởng; giai đoạn non của ong này, bọ xít bắt mồi và nhện bắt mồi bị ảnh hưởng ở mức trung bình.
  • Mặt trái qua mật rệp sáp: năm 2020, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Valencia (Tây Ban Nha) và Đại học Wageningen (Hà Lan) công bố trên Environmental Pollution: flonicamid xuất hiện trong mật do rệp sáp trên cây đã phun thuốc thải ra, và mật này làm tăng tỷ lệ chết của ruồi giả ong ăn mật, nhưng không ảnh hưởng tới ong ký sinh rệp sáp.

Trên Rầy Nâu: Ít Nước Bọt, Ít Mật, Ít Trứng

Năm 2023, một nhóm khác ở Đại học Nông nghiệp Nam Kinh công bố trên Journal of Agricultural and Food Chemistry: flonicamid làm giảm biểu hiện 5 gen protein nước bọt của rầy nâu; rầy trúng thuốc hút nhựa ở mạch libe ít hơn, thải mật ít hơn và đẻ ít trứng hơn. Đây là cơ sở của dấu hiệu "ít mật mới" ở đầu bài. Các tác giả kết luận việc giảm gen protein nước bọt chỉ góp một phần vào việc rầy thôi ăn.

Kháng Thuốc: Dấu Hiệu Và Cách Giữ Flonicamid Hiệu Quả Lâu

Biết đích là một men duy nhất thì cũng hiểu được rủi ro: chỉ cần một thay đổi nhỏ ở men đó, thuốc có thể yếu đi. Năm 2026, Đại học Exeter (Anh) cùng các đại học ở Trung Quốc và Tây Ban Nha công bố trên Current Biology rằng rệp đào, loài rệp nổi tiếng kháng nhiều nhóm thuốc, đã có đột biến V251I ngay ở men nicotinamidase. Tự đột biến này gây kháng mức trung bình.

Điều đáng chú ý hơn: đột biến xuất hiện trên những dòng rệp vốn đã có sẵn nhiều men giải độc P450 từ những năm phun các thuốc khác. Riêng men P450 chỉ giúp rệp chịu thuốc ở mức yếu, nhưng đi cùng đột biến tại đích thì mức kháng tăng vượt xa từng cơ chế riêng lẻ. Những lần phun thuốc trước đây vì vậy có thể giúp côn trùng kháng một hoạt chất mới nhanh hơn.

Rầy nâu là lời nhắc vì sao phải luân phiên. Chương trình theo dõi giai đoạn 2012–2016 của Đại học Nông nghiệp Nam Kinh, đăng trên Scientific Reports, ghi nhận mọi quần thể rầy nâu thu năm 2016 ở Trung Quốc đã kháng rất cao imidacloprid, thiamethoxam và buprofezin, và chỉ ra một men giải độc P450 tên CYP6ER1 góp phần gây kháng. Vì vậy flonicamid, một nhóm cơ chế khác, cần được giữ như một mắt xích luân phiên chứ không phải thuốc phun mãi.

Dấu hiệu cần để ý
  • Phun đúng lúc, đúng lượng, sau 5–7 ngày rệp, rầy vẫn tiếp tục sinh con non và đọt vẫn xoăn thêm.
  • Ruộng bên cạnh dùng cùng thuốc vẫn sạch, riêng ruộng mình còn từng ổ.
  • Gặp tình huống này: đừng tăng liều, đừng phun lại flonicamid; chuyển sang nhóm khác trong lịch luân phiên và gửi ảnh qua Zalo 096 994 2349.

Lịch Luân Phiên Gợi Ý Theo Nhóm IRAC

Nguyên tắc: mỗi lứa côn trùng dùng một nhóm cơ chế, lứa sau đổi nhóm khác, để những con mang đột biến kháng một nhóm không được chọn lọc liên tục.

Rầy Nâu Hại Lúa

Lứa rầy Hoạt chất gợi ý (nhóm IRAC)
Lứa 1 (rầy non mới nở rộ) Flonicamid (29)
Lứa 2 Triflumezopyrim (4E)
Lứa 3 Pymetrozine (9B) hoặc buprofezin (16, khi rầy non nở rộ)

Thứ tự có thể đảo, miễn hai lứa liền nhau không cùng nhóm; cách dùng triflumezopyrim ở bài Triflumezopyrim Trị Rầy Nâu Kháng Thuốc Ra Sao.

Bọ Phấn Trắng Hại Sắn, Rệp Muội Hại Đậu

  • Lần phun 1: flonicamid (29), có thể kèm bifenthrin (3A) trong cùng chai để hạ con trưởng thành nhanh.
  • Lần phun 2 (lứa sau, cách ít nhất 7 ngày): dinotefuran hoặc nitenpyram kết hợp pymetrozine (4A + 9B). Trên sắn, các thuốc bọ phấn đã đăng ký thuộc nhóm khác đều có pymetrozine đi kèm, nên dùng cho lứa sau chứ không phun ngay lên lứa vừa trúng flonicamid.
  • Giữa vụ: giữ lại thiên địch (ong ký sinh, bọ rùa), dọn cỏ dại ký chủ quanh ruộng; nhận biết bọ phấn và virus nó truyền ở bài Bọ Phấn Trắng Hại Cây Trồng.

Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Flonicamid

Ưu điểm
  • Đọt, hoa thôi bị chích sớm: cây ngừng mất nhựa từ lúc côn trùng ngừng hút, trước khi con chết.
  • Nhóm cơ chế riêng (IRAC 29): chỉ có một hoạt chất trong nhóm, không kháng chéo với các nhóm thuốc trừ sâu thông dụng (theo nhà phát triển thuốc).
  • Lưu dẫn và thấm xuyên lá: trúng cả con nấp mặt dưới lá.
  • Tương đối nhẹ với ong mật và nhiều thiên địch: có cơ sở di truyền (gen nicotinamidase nhân đôi ở ong) và số liệu đàn ong ngoài đồng.
Nhược điểm
  • Không thấy rầy rụng ngay, dễ bị cho là "thuốc không ăn". Cách khắc phục: đánh giá như mục "Làm Sao Biết Flonicamid Đã Có Tác Dụng?" ở trên.
  • Phổ hẹp, không trị sâu ăn lá, nhện. Cách khắc phục: ruộng có cả sâu và rầy thì dùng thêm thuốc trừ sâu đúng nhóm, phun riêng hoặc hỏi đội ngũ Quốc Việt Agri trước khi pha chung.
  • Rệp đào đã có dòng kháng (công bố năm 2026). Cách khắc phục: không phun flonicamid cho hai lứa liền nhau, theo lịch luân phiên ở trên.
  • Có thể đi vào mật của rệp sáp và hại ruồi ăn mật (ruồi giả ong). Cách khắc phục: chỉ phun khi cần, không phun phòng định kỳ cả vườn.

Lần tới phun flonicamid xong mà sáng hôm sau vẫn thấy rầy bám gốc lúa, hãy nhớ điều đã mất 30 năm mới làm rõ: con rầy đó đã tự biến thuốc thành chất khóa men nicotinamidase trong cơ quan cảm giác của nó, và có lẽ đã thôi hút từ chiều hôm trước. Việc của mình là nhìn đọt non, chờ vài ngày, và đổi nhóm thuốc cho lứa sau.

Sản Phẩm Chứa Flonicamid Tại Quốc Việt Agri

Hai sản phẩm dưới đây cùng có flonicamid, nên cách thuốc làm việc, cách đánh giá sau phun và lịch luân phiên ở trên dùng chung. Khác nhau ở hàm lượng, hoạt chất đi kèm và danh sách cây, con đăng ký.

Sản phẩm (hàm lượng) Đăng ký tại Việt Nam
EXAMI 20WG (flonicamid 20%, gói 100 g) Rầy nâu hại lúa
BITHRIN 15SC (bifenthrin 5% + flonicamid 10%, chai 240 ml) Bọ phấn trắng hại sắn; rầy xanh hại lạc; rệp muội hại đậu tương

Theo Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, sửa đổi bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT.

EXAMI 20WG – gói 100 g
  • Hoạt chất: flonicamid 20% (200 g/kg), dạng cốm phân tán trong nước (WG), nhóm IRAC 29
  • Đăng ký: rầy nâu hại lúa
  • Thời gian cách ly: ngày cuối cùng phun cách ngày thu hoạch ít nhất 7 ngày (in trên bao gói EXAMI 20WG)
  • Lượng pha: vui lòng liên hệ đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo 096 994 2349 để được hướng dẫn lượng pha
  • Hợp khi: ruộng lúa đang có rầy nâu non, cần một nhóm luân phiên khác các thuốc rầy quen dùng
Xem EXAMI 20WG →
BITHRIN 15SC – chai 240 ml
  • Hoạt chất: bifenthrin 5% (cúc tổng hợp, IRAC 3A, hạ con trưởng thành qua tiếp xúc) + flonicamid 10% (IRAC 29, chặn chích hút), dạng huyền phù (SC)
  • Đăng ký: ba đối tượng trên sắn, lạc, đậu tương như bảng ở trên
  • Lượng pha và thời gian cách ly: nhắn Zalo 096 994 2349, đội ngũ Quốc Việt Agri gửi hướng dẫn cho từng cây
  • Lưu ý: bifenthrin rất độc với cá và ong (dữ liệu quốc tế PPDB): không phun lúc cây trổ hoa có ong, không rửa bình xuống ao, mương
Xem BITHRIN 15SC →

Hai chai này chưa đăng ký trừ bọ trĩ, rệp sáp, hay bọ phấn trên lúa; cây, con ngoài danh sách trên thì nhắn Zalo cho chúng tôi để được chỉ thuốc đã đăng ký phù hợp.

Sản Phẩm Theo Từng Bước Luân Phiên

  • Rầy nâu hại lúa: EXAMI 20WG (flonicamid, 29) → PEXENA 20WG (triflumezopyrim, 4E) → CHESS 50WG (pymetrozine, 9B) hoặc HELLO 250WP (buprofezin, 16) khi rầy non nở rộ. Cả bốn đều đăng ký rầy nâu hại lúa.
  • Bọ phấn trắng hại sắn: BITHRIN 15SC (3A + 29) → OSAGO 80WG (nitenpyram + pymetrozine, 4A + 9B) hoặc MEDINO 60WG (dinotefuran + pymetrozine, 4A + 9B); cả hai đăng ký bọ phấn hại sắn.
  • Rệp muội hại đậu tương: BITHRIN 15SC → MEDINO 60WG (đăng ký rệp muội hại đậu tương).

Mỗi sản phẩm dùng đúng cây, đúng đối tượng đăng ký; lượng pha từng chai: nhắn Zalo 096 994 2349.

Nguồn Tham Khảo

  1. Morita M., Ueda T., Yoneda T., Koyanagi T., Haga T. (Ishihara Sangyo Kaisha). Flonicamid, a novel insecticide with a rapid inhibitory effect on aphid feeding. Pest Management Science 2007;63(10):969–973. doi.org
  2. Morita M., Yoneda T., Akiyoshi N. (Ishihara Sangyo Kaisha). Research and development of a novel insecticide, flonicamid. Journal of Pesticide Science 2014;39(3):179–180. doi.org
  3. Ren M., Niu J., Hu B. và cs. (Nanjing Agricultural University). Block of Kir channels by flonicamid disrupts salivary and renal excretion of insect pests. Insect Biochemistry and Molecular Biology 2018;99:17–26. doi.org
  4. Spalthoff C., Salgado V.L., Theis M., Geurten B.R.H., Göpfert M.C. (Universität Göttingen; BASF; Bayer). Flonicamid metabolite 4-trifluoromethylnicotinamide is a chordotonal organ modulator insecticide. Pest Management Science 2022;78(11):4802–4808. doi.org
  5. Qiao X., Zhang X., Zhou Z. và cs. (Zhejiang University; University of California Santa Barbara). An insecticide target in mechanoreceptor neurons. Science Advances 2022;8(47):eabq3132. doi.org
  6. Zeng B., Troczka B.J., Yuan J. và cs. (University of Exeter). Historical metabolic adaptation potentiates the rapid evolution of flonicamid resistance in Myzus persicae. Current Biology 2026;36(17):4456–4467. doi.org
  7. Gao H., Yuan X., Lin X. và cs. (Nanjing Agricultural University). Reducing expression of salivary protein genes by flonicamid partially contributed to its feeding inhibition of the brown planthopper on rice. Journal of Agricultural and Food Chemistry 2023. doi.org
  8. Wu S.-F., Zeng B., Zheng C. và cs. (Nanjing Agricultural University). The evolution of insecticide resistance in the brown planthopper (Nilaparvata lugens Stål) of China in the period 2012–2016. Scientific Reports 2018;8:4586. doi.org
  9. Roditakis E.N., Fytrou N., Staurakaki M., Vontas J.G., Tsagkarakou A. (National Agricultural Research Foundation; University of Crete). Activity of flonicamid on the sweet potato whitefly Bemisia tabaci and its natural enemies. Pest Management Science 2014;70(10):1460–1467. doi.org
  10. Calvo-Agudo M., González-Cabrera J., Sadutto D. và cs. (IVIA; Wageningen University). IPM-recommended insecticides harm beneficial insects through contaminated honeydew. Environmental Pollution 2020;267:115581. doi.org
  11. Meikle W.G., Weiss M. (USDA-ARS Carl Hayden Bee Research Center). Field and cage studies show no effects of exposure to flonicamid on honey bees at field-relevant concentrations. Insects 2022;13(9):845. doi.org
  12. IRAC. Mode of Action Classification, nhóm 29: Chordotonal organ nicotinamidase inhibitors (flonicamid), đọc 16/10/2026. irac-online.org
  13. U.S. EPA. Nhãn được chấp thuận Flonicamid 50WG, EPA Reg. No. 71512-9 (ISK Biosciences): cơ chế ngừng ăn, nhóm 29, khoảng cách tối thiểu 7 ngày giữa hai lần phun. www3.epa.gov
  14. University of Hertfordshire. PPDB: Pesticide Properties DataBase, Flonicamid (Report 321) và Bifenthrin (Report 78), đọc 16/10/2026. sitem.herts.ac.uk
  15. Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, Phụ lục I, mục flonicamid và bifenthrin + flonicamid, sửa đổi bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT.

Cần tư vấn?

Chưa chắc con đang hại là rầy, rệp, bọ phấn hay bọ trĩ? Chụp gần mặt dưới lá và đọt non (thấy rõ con), ghi cây trồng và tuổi cây, gửi đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo. Chúng tôi chỉ đúng nhóm thuốc, đúng lúc phun và cách luân phiên cho vườn nhà mình.

Nhắn Zalo 096 994 2349

Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Flonicamid là thuốc gì, trị con gì?

Flonicamid là hoạt chất trừ côn trùng chích hút, nhóm IRAC 29, được phép sử dụng tại Việt Nam. Thuốc trị rệp muội, rầy nâu, rầy xanh, bọ phấn trắng và một số loài bọ trĩ; không trị sâu ăn lá, bọ cánh cứng, ruồi và nhện. Côn trùng hút phải nhựa có thuốc thì ngừng chích hút trong khoảng 30 phút rồi chết đói sau đó.

Vì sao phun flonicamid xong rầy, rệp vẫn còn bám trên lá?

Vì flonicamid làm côn trùng ngừng ăn chứ không làm rơi rụng ngay; con trúng thuốc vẫn bám trên cây cho tới khi khô xác. Hãy đánh giá sau 3–5 ngày bằng đọt non mới (không xoăn thêm), mật mới và con non, đừng vội phun lại hay tăng liều.

Flonicamid có trị bọ trĩ không?

Có với một số loài, như bọ trĩ chè vàng hay hại đọt xoài, ớt, chè. Tại Việt Nam, flonicamid mới được đăng ký trừ bọ trĩ trên hoa cúc và hoa hồng. Với bọ trĩ hại lúa, dưa, ớt, sầu riêng, nên dùng thuốc đã đăng ký đúng cây; nhắn Zalo 096 994 2349 để được tư vấn.

Flonicamid và pymetrozine có phải cùng một loại không?

Không. Cả hai đều làm côn trùng ngừng chích hút, nhưng IRAC xếp pymetrozine vào nhóm 9B, flonicamid vào nhóm 29. Vì cùng làm rối cơ quan cảm giác của côn trùng, nên xen một nhóm hoàn toàn khác ở giữa, không phun hai thuốc này nối tiếp cho cùng một lứa rầy.

Flonicamid có độc với ong không?

Theo dữ liệu quốc tế (PPDB), flonicamid độc thấp với ong khi tiếp xúc, và ong mật có một dạng men mà chất chuyển hóa của thuốc không khóa được. Tuy vậy, chai có trộn thêm bifenthrin thì rất độc với ong và cá, không phun lúc cây nở hoa có ong.

EXAMI 20WG và BITHRIN 15SC khác nhau thế nào?

EXAMI 20WG chỉ có flonicamid 20%, đăng ký trừ rầy nâu hại lúa, thời gian cách ly 7 ngày. BITHRIN 15SC có bifenthrin 5% và flonicamid 10%, đăng ký trừ bọ phấn trắng hại sắn, rầy xanh hại lạc và rệp muội hại đậu tương. Lượng pha từng chai: nhắn Zalo 096 994 2349 để được hướng dẫn.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog