Pexena Là Thuốc Gì? Triflumezopyrim Trị Rầy Nâu Kháng Thuốc Ra Sao
PEXENA là thuốc trừ rầy chứa hoạt chất triflumezopyrim, nhóm mesoionic, IRAC 4E, do DuPont (nay là Corteva) phát triển. Tại Việt Nam có hai dạng: PEXENA 106SC (đăng ký cho rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ trên lúa) và PEXENA 20WG (đăng ký cho rầy nâu trên lúa).
Triflumezopyrim tác động lên cùng thụ thể thần kinh với imidacloprid, nhưng theo cách ngược lại: imidacloprid kích thích thụ thể, còn triflumezopyrim chặn nó. Vì vậy các quần thể rầy nâu đã kháng imidacloprid hàng nghìn lần vẫn mẫn cảm với triflumezopyrim.
Giới hạn cần biết: chỉ đăng ký cho rầy trên lúa, rất độc với ong, và mức kháng ở rầy nâu Trung Quốc đã tăng từ 2,5 lên 7,1 lần trong giai đoạn 2020–2023. Không nên dùng liên tiếp cho nhiều lứa rầy.
Một Phân Tử Ra Đời Từ Chương Trình Tìm Thuốc Trừ Nấm
Nhóm hoạt chất của triflumezopyrim không được tìm ra khi các nhà hóa học đang tìm thuốc trừ sâu. Theo bài tổng quan của Zhang (2017) về quá trình phát hiện hoạt chất, những hợp chất mesoionic đầu tiên xuất hiện như sản phẩm phụ không mong muốn trong các phản ứng tổng hợp thuộc một chương trình tìm thuốc trừ nấm tại DuPont Crop Protection.
Khi thử hoạt tính, nhóm chất này lại có tác dụng mạnh trên côn trùng. Nhóm nghiên cứu tối ưu dần cấu trúc và năm 2017 công bố phân tử cuối cùng: triflumezopyrim, một hoạt chất “kiểm soát được nhiều loài rầy” ở liều rất thấp. Trước đó một năm, nhóm của Cordova (2016), cũng tại DuPont, đã công bố cơ chế tác động và gọi đây là thuốc trừ sâu thương mại đầu tiên của nhóm mesoionic.
Điều đáng chú ý nhất về triflumezopyrim không nằm ở nguồn gốc tình cờ. Nó thuộc cùng nhóm lớn IRAC 4 với imidacloprid, thiamethoxam, dinotefuran, tức cùng tác động lên một thụ thể thần kinh của côn trùng. Vậy tại sao nó vẫn diệt được những quần thể rầy nâu đã gần như không còn phản ứng với imidacloprid?
Rầy Nâu Đã Kháng Imidacloprid Đến Mức Nào
Kết quả theo dõi các quần thể rầy nâu ngoài đồng tại Trung Quốc cho thấy mức kháng imidacloprid đã rất cao, trong khi mức kháng triflumezopyrim vẫn thấp:
| Hoạt chất | Nhóm IRAC | Mức kháng của rầy nâu, Trung Quốc 2015–2018 |
|---|---|---|
| Imidacloprid | 4A | 2.195 – 6.899 lần |
| Triflumezopyrim | 4E | 1,3 – 7,3 lần |
“Kháng 6.899 lần” có nghĩa là cần nồng độ imidacloprid cao gấp gần bảy nghìn lần so với quần thể rầy mẫn cảm mới diệt được cùng một tỷ lệ rầy. Ngoài đồng, điều này có nghĩa là phun đúng nhãn mà rầy vẫn sống. Cùng quần thể đó, với triflumezopyrim, mức kháng chỉ 1,3–7,3 lần.
Một nghiên cứu khác theo dõi rầy nâu Trung Quốc giai đoạn 2015–2019 ghi nhận tất cả quần thể đều mẫn cảm với triflumezopyrim (0,5–3,9 lần) và không có kháng chéo với năm hoạt chất neonicotinoid khác. Tại Ấn Độ, một quần thể rầy nâu kháng imidacloprid cũng không kháng chéo với triflumezopyrim. Tình trạng rầy nâu kháng imidacloprid ở Việt Nam được trình bày trong bài imidacloprid là gì.
Hai hoạt chất cùng tác động lên một thụ thể, nhưng rầy kháng chất này lại không kháng chất kia. Lời giải nằm ở cách mỗi chất tác động lên thụ thể đó.
Cùng Một Thụ Thể, Hai Cách Tác Động Ngược Nhau
Trên tế bào thần kinh của côn trùng có một loại thụ thể gọi là thụ thể nicotinic acetylcholine (nAChR). Bình thường, chất truyền tin acetylcholine gắn vào thụ thể, mở kênh cho tín hiệu thần kinh đi qua, rồi được enzyme dọn đi để kênh đóng lại.
- Imidacloprid và các neonicotinoid (4A): bắt chước acetylcholine, gắn vào và kích hoạt thụ thể, nhưng không bị enzyme phân hủy như acetylcholine. Tín hiệu thần kinh bị kích thích liên tục, côn trùng run rẩy, tê liệt rồi chết.
- Triflumezopyrim (4E): gắn vào đúng vị trí mà acetylcholine gắn, nhưng không kích hoạt thụ thể. Theo Cordova và cộng sự (2016), hoạt chất ức chế dòng tín hiệu qua thụ thể ở nồng độ chỉ 0,6 nM (nanomol/lít), trong khi khả năng kích hoạt “rất nhỏ”. Thụ thể bị chiếm chỗ, acetylcholine không vào được, tín hiệu thần kinh bị chặn.
Có thể hình dung thụ thể như một ổ khóa. Imidacloprid là chiếc chìa tra vào rồi vặn mở và kẹt luôn ở đó. Triflumezopyrim là chiếc chìa tra vừa khít nhưng không vặn được, và vì nó nằm sẵn trong ổ nên chìa thật cũng không tra vào được.
Báo cáo của Hội nghị chung FAO/WHO về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (JMPR, 2017) viết rõ điểm khác biệt này: triflumezopyrim ức chế thụ thể, khác với neonicotinoid là những chất kích thích thụ thể dẫn tới côn trùng bị kích thích quá mức. IRAC cũng ghi nhận: dù các phân nhóm trong nhóm 4 được cho là có cùng vị trí tác động, nguy cơ kháng chéo do chuyển hóa giữa các phân nhóm hiện được đánh giá là thấp.
Cách tác động khác nhau này cũng giải thích một hiện tượng dễ gây hiểu lầm khi phun ngoài đồng.
Vì Sao Rầy Trúng Thuốc Không Rớt Ngay
Nhiều người quen đánh giá thuốc rầy bằng cách vạch gốc lúa sau khi phun vài giờ: thấy rầy rớt xuống nước là thuốc tốt. Với triflumezopyrim, cách đánh giá này dễ dẫn đến kết luận sai.
Rầy trúng triflumezopyrim không bị kích thích mà trở nên chậm chạp, lờ đờ. Một nghiên cứu đo hành vi chích hút bằng kỹ thuật ghi điện thế (Journal of Integrative Agriculture, 2020) ghi nhận thời gian rầy hút nhựa ở mạch libe giảm 37,2–77,7% sau khi tiếp xúc với hoạt chất. Rầy vẫn bám trên gốc lúa trong một thời gian, nhưng phần lớn đã ngừng hút nhựa.
Vì vậy nên đánh giá hiệu quả bằng số rầy còn sống và còn hoạt động sau vài ngày, không phải số rầy rớt ngay sau khi phun. Trong một thí nghiệm ngoài đồng tại Odisha (Ấn Độ), ở liều 25 g hoạt chất/ha, ruộng phun còn trung bình 1,25 con rầy nâu/bụi sau 14 ngày, so với 25,5 con/bụi ở ruộng không phun.
Ứng Dụng Và Giới Hạn Của Triflumezopyrim
- Rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ trên lúa (PEXENA 106SC); rầy nâu trên lúa (PEXENA 20WG).
- Quần thể rầy nâu đã kháng imidacloprid và các neonicotinoid khác, theo số liệu theo dõi tại Trung Quốc và Ấn Độ.
- Lưu dẫn hướng lên: hoạt chất được cây hấp thu và vận chuyển mạnh lên phần trên của cây.
- Trong hai nghiên cứu, hoạt chất được đánh giá là ít hại với bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis) và nhện sói (Pardosa pseudoannulata), hai thiên địch quan trọng của rầy nâu. Một nghiên cứu năm 2024 ghi nhận ảnh hưởng bất lợi trên kiến ba khoang, vì vậy vẫn nên phun theo ngưỡng, không phun theo lịch.
- Sâu cuốn lá, sâu đục thân và các loài sâu miệng nhai: triflumezopyrim chỉ được đăng ký cho rầy. Khi ruộng có cả rầy và sâu, cần một hoạt chất khác cho sâu.
- Không an toàn cho ong: độc tính cấp qua tiếp xúc với ong mật rất cao (LD50 0,39 µg/con). Cơ sở dữ liệu thuốc bảo vệ thực vật của Đại học Hertfordshire (Anh) xếp độc tính cấp qua tiếp xúc với ong ở mức cao.
- Không giữ hiệu lực vô thời hạn: nhà sản xuất công bố hiệu lực 21 ngày; một nghiên cứu độc lập tại Ấn Độ dựa trên dư lượng ước tính hiệu lực với rầy nâu khoảng 7–10 ngày. Cần thăm đồng lại, không mặc định ruộng đã an toàn trong ba tuần.
- Không miễn nhiễm với kháng thuốc: rầy nâu có thể kháng triflumezopyrim (xem phần tiếp theo).
Rầy Nâu Có Thể Kháng Triflumezopyrim Không?
Có. Số liệu cho thấy quá trình này đang diễn ra, dù còn chậm:
- Trung Quốc 2020–2023: mức kháng trung bình của rầy nâu với triflumezopyrim tăng từ 2,5 lên 7,1 lần (Ye và cộng sự, 2024).
- Ấn Độ 2024–2025: 14 quần thể từ 8 bang có mức kháng 3,28–13,13 lần; hoạt chất vẫn còn hiệu quả (Naik và cộng sự, 2026).
- Trong phòng thí nghiệm: chọn lọc liên tục qua 29 thế hệ tạo ra dòng rầy nâu kháng 155 lần. Dòng rầy kháng này có chỉ số thích nghi chỉ bằng 0,62 so với dòng mẫn cảm, tức sinh trưởng và sinh sản kém hơn (Qin và cộng sự, 2021).
Rầy nâu có thể sinh nhiều lứa trong một vụ lúa. Nếu mỗi lứa đều gặp cùng một hoạt chất, những cá thể mang gen kháng sống sót và sinh sản, tỷ lệ rầy kháng trong quần thể tăng dần qua từng lứa. Đó là con đường imidacloprid đã đi qua.
IRAC (bản phân loại 2025) viết rằng nguy cơ kháng chéo giữa các phân nhóm trong cùng một nhóm cao hơn giữa các nhóm khác nhau, vì vậy nên tránh luân phiên giữa các phân nhóm, ví dụ từ 4E sang 4A. Chỉ cân nhắc khi không có thuốc hiệu quả thuộc nhóm khác được đăng ký, sau khi hỏi ý kiến chuyên môn tại địa phương.
Áp dụng cho ruộng lúa: nếu lứa rầy trước đã dùng triflumezopyrim (4E), lứa sau nên chọn thuốc không thuộc nhóm 4, ví dụ pymetrozine (nhóm 9B) như Chess 50WG. Chính Corteva khuyến cáo: nếu áp lực rầy cao, dùng pymetrozine cho lứa rầy nâu thứ hai, khoảng 21–25 ngày sau khi phun PEXENA. Xem thêm cách chọn thuốc trừ sâu theo nhóm IRAC.
Cách Dùng Pexena (Triflumezopyrim) Hiệu Quả
Từ cơ chế và những giới hạn ở trên, cách dùng triflumezopyrim có thể suy ra từng bước:
Nếu chưa chắc ruộng đang có rầy nâu hay rầy lưng trắng, hoặc cần tính lượng thuốc theo diện tích, có thể gửi ảnh gốc lúa cho đội ngũ Quốc Việt Agri để được xem trước khi chọn sản phẩm.
Sản Phẩm Trừ Rầy Tại Quốc Việt Agri
Hai sản phẩm đầu chứa triflumezopyrim. Hai sản phẩm sau chứa pymetrozine (nhóm 9B), dùng cho những lứa rầy khác trong chương trình luân phiên:
Bảng Tra Nhanh
| Mục | Nội dung |
|---|---|
| Hoạt chất | Triflumezopyrim, nhóm mesoionic |
| Nhóm IRAC | 4E: chặn thụ thể nicotinic acetylcholine (khác 4A neonicotinoid là kích thích thụ thể) |
| Nguồn gốc | DuPont (nay là Corteva); nhóm chất được phát hiện từ một chương trình tìm thuốc trừ nấm |
| Sản phẩm tại Việt Nam | PEXENA 106SC (rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ/lúa); PEXENA 20WG (rầy nâu/lúa) |
| Liều theo nhà sản xuất | 106SC: 250 ml/ha rầy nâu, 300 ml/ha rầy lưng trắng; 20WG: 125 g/ha; 1 lần/vụ, 35–45 ngày sau sạ |
| Biểu hiện trên rầy | Lờ đờ, ngừng hút nhựa, chết sau đó; không rớt hàng loạt ngay sau phun |
| Kháng chéo với imidacloprid | Không ghi nhận trong các nghiên cứu tại Trung Quốc và Ấn Độ |
| Mức kháng hiện tại | Thấp nhưng đang tăng: 2,5 lên 7,1 lần (Trung Quốc 2020–2023) |
| Không trị | Sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu miệng nhai |
| Lưu ý an toàn | Rất độc với ong; tránh để thuốc xuống ao, kênh |
| Luân phiên | Lứa sau dùng thuốc ngoài nhóm 4, ví dụ pymetrozine (9B) |
Kết Luận
Triflumezopyrim ra đời từ những sản phẩm phụ trong một chương trình tìm thuốc trừ nấm, và trở thành hoạt chất tác động lên cùng thụ thể với imidacloprid nhưng theo cách ngược lại. Đó là lý do nó vẫn diệt được những quần thể rầy nâu đã kháng imidacloprid hàng nghìn lần. Số liệu 2020–2023 cho thấy rầy nâu cũng đang bắt đầu thích nghi với chính hoạt chất này. Dùng theo ngưỡng, đúng dạng thuốc, và không dùng cho hai lứa rầy liên tiếp là cách giữ hiệu lực của nó lâu hơn con đường mà imidacloprid đã đi qua.
Nguồn Tham Khảo
- Zhang W. (2017). Accounts of Chemical Research 50:2381–2388. doi:10.1021/acs.accounts.7b00311 (quá trình phát hiện nhóm mesoionic tại DuPont).
- Zhang W., Holyoke C.W. và cộng sự (2017). Bioorganic & Medicinal Chemistry Letters 27:16–20. doi:10.1016/j.bmcl.2016.11.042 (phát hiện triflumezopyrim).
- Cordova D. và cộng sự (2016). Insect Biochemistry and Molecular Biology 74:32–41. doi:10.1016/j.ibmb.2016.04.008 (cơ chế tác động trên thụ thể nicotinic acetylcholine).
- FAO/WHO JMPR (2017). Triflumezopyrim (303), báo cáo đánh giá dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, mục 5.38.
- IRAC. Mode of Action Classification Scheme, phiên bản 10.2 (2022) và 11.3 (2025).
- Liao X. và cộng sự (2021). Insect Science 28:115–126. doi:10.1111/1744-7917.12764 (mức kháng của rầy nâu tại Trung Quốc 2015–2018).
- Zhang Y.C. và cộng sự (2020). Pesticide Biochemistry and Physiology 167:104608. doi:10.1016/j.pestbp.2020.104608 (độ mẫn cảm với triflumezopyrim và kháng chéo, Trung Quốc 2015–2019).
- Ye W.N. và cộng sự (2024). Pesticide Biochemistry and Physiology 205:106173 (mức kháng triflumezopyrim tại Trung Quốc 2020–2023).
- Naik V.C.B. và cộng sự (2026). Pesticide Biochemistry and Physiology 221 (mức kháng của 14 quần thể rầy nâu tại Ấn Độ 2024–2025).
- Qin Y. và cộng sự (2021). Pest Management Science 77:5566–5575. doi:10.1002/ps.6598 (chọn lọc kháng trong phòng thí nghiệm).
- Sravanthi và cộng sự (2025). Indian Journal of Entomology 87(3):693–696. doi:10.55446/IJE.2024.1674
- Zhu J. và cộng sự (2018). Ecotoxicology 27:411–419. doi:10.1007/s10646-018-1904-x
- Mishra R. và cộng sự (2022). Environmental Science and Pollution Research 29:30206–30216. doi:10.1007/s11356-022-18551-1
- Khan M.M. và cộng sự (2024). Chemosphere 365:143386.
- Fan T. và cộng sự (2020). Journal of Agricultural and Food Chemistry 68:7086–7092 (sự vận chuyển của triflumezopyrim trong cây lúa).
- Journal of Integrative Agriculture (2020). Ảnh hưởng của triflumezopyrim lên hành vi chích hút của rầy (kỹ thuật ghi điện thế EPG).
- University of Hertfordshire. Pesticide Properties DataBase (PPDB): Triflumezopyrim.
- Umetsu N., Shirai Y. (2026). Journal of Pesticide Science 51:1–43. doi:10.1584/jpestics.d25-078
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, Phụ lục I: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.
- Corteva Agriscience Việt Nam. Phiếu an toàn hóa chất PEXENA 106SC (2021) và hướng dẫn sử dụng PEXENA 106SC.
- Syngenta Việt Nam. Thông tin sản phẩm PEXENA 20WG.
- Ảnh rầy nâu (ảnh bìa và ảnh trong bài): portioid / iNaturalist qua Wikimedia Commons, CC BY 4.0 (ảnh bìa đã cắt khung).