Triflumezopyrim là gì – rầy nâu trưởng thành trên lá

Pexena Là Thuốc Gì? Triflumezopyrim Trị Rầy Nâu Kháng Thuốc Ra Sao

Triflumezopyrim (IRAC 4E, Corteva) có trong PEXENA 106SC và 20WG. Chặn thụ thể nicotinic acetylcholine thay vì kích thích như imidacloprid, nên trị được rầy nâu đã kháng imidacloprid. Rầy trúng thuốc lờ đờ, ngừng hút nhựa trước khi chết. Rất độc với ong; mức kháng đang tăng chậm (2,5 lên 7,1 lần, Trung Quốc 2020–2023). Lứa sau dùng thuốc ngoài nhóm 4, ví dụ pymetrozine (9B).

Trả lời nhanh

PEXENA là thuốc trừ rầy chứa hoạt chất triflumezopyrim, nhóm mesoionic, IRAC 4E, do DuPont (nay là Corteva) phát triển. Tại Việt Nam có hai dạng: PEXENA 106SC (đăng ký cho rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ trên lúa) và PEXENA 20WG (đăng ký cho rầy nâu trên lúa).

Triflumezopyrim tác động lên cùng thụ thể thần kinh với imidacloprid, nhưng theo cách ngược lại: imidacloprid kích thích thụ thể, còn triflumezopyrim chặn nó. Vì vậy các quần thể rầy nâu đã kháng imidacloprid hàng nghìn lần vẫn mẫn cảm với triflumezopyrim.

Giới hạn cần biết: chỉ đăng ký cho rầy trên lúa, rất độc với ong, và mức kháng ở rầy nâu Trung Quốc đã tăng từ 2,5 lên 7,1 lần trong giai đoạn 2020–2023. Không nên dùng liên tiếp cho nhiều lứa rầy.

Một Phân Tử Ra Đời Từ Chương Trình Tìm Thuốc Trừ Nấm

Nhóm hoạt chất của triflumezopyrim không được tìm ra khi các nhà hóa học đang tìm thuốc trừ sâu. Theo bài tổng quan của Zhang (2017) về quá trình phát hiện hoạt chất, những hợp chất mesoionic đầu tiên xuất hiện như sản phẩm phụ không mong muốn trong các phản ứng tổng hợp thuộc một chương trình tìm thuốc trừ nấm tại DuPont Crop Protection.

Khi thử hoạt tính, nhóm chất này lại có tác dụng mạnh trên côn trùng. Nhóm nghiên cứu tối ưu dần cấu trúc và năm 2017 công bố phân tử cuối cùng: triflumezopyrim, một hoạt chất “kiểm soát được nhiều loài rầy” ở liều rất thấp. Trước đó một năm, nhóm của Cordova (2016), cũng tại DuPont, đã công bố cơ chế tác động và gọi đây là thuốc trừ sâu thương mại đầu tiên của nhóm mesoionic.



2013
Triflumezopyrim, mã phát triển DPX-RAB55, được giới thiệu.


25/11/2014
Ủy ban Hành động Chống Kháng thuốc Trừ sâu (IRAC) xếp triflumezopyrim vào nhóm mới 4E: mesoionic.


2015–2016
Những đăng ký đầu tiên của hoạt chất.


2016
Cordova và cộng sự công bố cơ chế: hoạt chất chặn thụ thể nicotinic acetylcholine của côn trùng.


12/2018
Corteva và Tập đoàn Lộc Trời ra mắt PEXENA 106SC tại Việt Nam.

2019
Ra mắt tại Nhật Bản với tên Zexalon. Tại Trung Quốc và Ấn Độ, hoạt chất được bán với tên Pexalon.

Điều đáng chú ý nhất về triflumezopyrim không nằm ở nguồn gốc tình cờ. Nó thuộc cùng nhóm lớn IRAC 4 với imidacloprid, thiamethoxam, dinotefuran, tức cùng tác động lên một thụ thể thần kinh của côn trùng. Vậy tại sao nó vẫn diệt được những quần thể rầy nâu đã gần như không còn phản ứng với imidacloprid?

Rầy Nâu Đã Kháng Imidacloprid Đến Mức Nào

Kết quả theo dõi các quần thể rầy nâu ngoài đồng tại Trung Quốc cho thấy mức kháng imidacloprid đã rất cao, trong khi mức kháng triflumezopyrim vẫn thấp:

Hoạt chất Nhóm IRAC Mức kháng của rầy nâu, Trung Quốc 2015–2018
Imidacloprid 4A 2.195 – 6.899 lần
Triflumezopyrim 4E 1,3 – 7,3 lần

“Kháng 6.899 lần” có nghĩa là cần nồng độ imidacloprid cao gấp gần bảy nghìn lần so với quần thể rầy mẫn cảm mới diệt được cùng một tỷ lệ rầy. Ngoài đồng, điều này có nghĩa là phun đúng nhãn mà rầy vẫn sống. Cùng quần thể đó, với triflumezopyrim, mức kháng chỉ 1,3–7,3 lần.

Một nghiên cứu khác theo dõi rầy nâu Trung Quốc giai đoạn 2015–2019 ghi nhận tất cả quần thể đều mẫn cảm với triflumezopyrim (0,5–3,9 lần) và không có kháng chéo với năm hoạt chất neonicotinoid khác. Tại Ấn Độ, một quần thể rầy nâu kháng imidacloprid cũng không kháng chéo với triflumezopyrim. Tình trạng rầy nâu kháng imidacloprid ở Việt Nam được trình bày trong bài imidacloprid là gì.

Hai hoạt chất cùng tác động lên một thụ thể, nhưng rầy kháng chất này lại không kháng chất kia. Lời giải nằm ở cách mỗi chất tác động lên thụ thể đó.

Cùng Một Thụ Thể, Hai Cách Tác Động Ngược Nhau

Trên tế bào thần kinh của côn trùng có một loại thụ thể gọi là thụ thể nicotinic acetylcholine (nAChR). Bình thường, chất truyền tin acetylcholine gắn vào thụ thể, mở kênh cho tín hiệu thần kinh đi qua, rồi được enzyme dọn đi để kênh đóng lại.

  • Imidacloprid và các neonicotinoid (4A): bắt chước acetylcholine, gắn vào và kích hoạt thụ thể, nhưng không bị enzyme phân hủy như acetylcholine. Tín hiệu thần kinh bị kích thích liên tục, côn trùng run rẩy, tê liệt rồi chết.
  • Triflumezopyrim (4E): gắn vào đúng vị trí mà acetylcholine gắn, nhưng không kích hoạt thụ thể. Theo Cordova và cộng sự (2016), hoạt chất ức chế dòng tín hiệu qua thụ thể ở nồng độ chỉ 0,6 nM (nanomol/lít), trong khi khả năng kích hoạt “rất nhỏ”. Thụ thể bị chiếm chỗ, acetylcholine không vào được, tín hiệu thần kinh bị chặn.

Có thể hình dung thụ thể như một ổ khóa. Imidacloprid là chiếc chìa tra vào rồi vặn mở và kẹt luôn ở đó. Triflumezopyrim là chiếc chìa tra vừa khít nhưng không vặn được, và vì nó nằm sẵn trong ổ nên chìa thật cũng không tra vào được.

Imidacloprid làm thụ thể hoạt động quá mức. Triflumezopyrim làm thụ thể ngừng hoạt động.

Báo cáo của Hội nghị chung FAO/WHO về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (JMPR, 2017) viết rõ điểm khác biệt này: triflumezopyrim ức chế thụ thể, khác với neonicotinoid là những chất kích thích thụ thể dẫn tới côn trùng bị kích thích quá mức. IRAC cũng ghi nhận: dù các phân nhóm trong nhóm 4 được cho là có cùng vị trí tác động, nguy cơ kháng chéo do chuyển hóa giữa các phân nhóm hiện được đánh giá là thấp.

Cách tác động khác nhau này cũng giải thích một hiện tượng dễ gây hiểu lầm khi phun ngoài đồng.

Vì Sao Rầy Trúng Thuốc Không Rớt Ngay

Nhiều người quen đánh giá thuốc rầy bằng cách vạch gốc lúa sau khi phun vài giờ: thấy rầy rớt xuống nước là thuốc tốt. Với triflumezopyrim, cách đánh giá này dễ dẫn đến kết luận sai.

Rầy trúng triflumezopyrim không bị kích thích mà trở nên chậm chạp, lờ đờ. Một nghiên cứu đo hành vi chích hút bằng kỹ thuật ghi điện thế (Journal of Integrative Agriculture, 2020) ghi nhận thời gian rầy hút nhựa ở mạch libe giảm 37,2–77,7% sau khi tiếp xúc với hoạt chất. Rầy vẫn bám trên gốc lúa trong một thời gian, nhưng phần lớn đã ngừng hút nhựa.

Vì vậy nên đánh giá hiệu quả bằng số rầy còn sống và còn hoạt động sau vài ngày, không phải số rầy rớt ngay sau khi phun. Trong một thí nghiệm ngoài đồng tại Odisha (Ấn Độ), ở liều 25 g hoạt chất/ha, ruộng phun còn trung bình 1,25 con rầy nâu/bụi sau 14 ngày, so với 25,5 con/bụi ở ruộng không phun.

Ứng Dụng Và Giới Hạn Của Triflumezopyrim

Làm tốt
  • Rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ trên lúa (PEXENA 106SC); rầy nâu trên lúa (PEXENA 20WG).
  • Quần thể rầy nâu đã kháng imidacloprid và các neonicotinoid khác, theo số liệu theo dõi tại Trung Quốc và Ấn Độ.
  • Lưu dẫn hướng lên: hoạt chất được cây hấp thu và vận chuyển mạnh lên phần trên của cây.
  • Trong hai nghiên cứu, hoạt chất được đánh giá là ít hại với bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis) và nhện sói (Pardosa pseudoannulata), hai thiên địch quan trọng của rầy nâu. Một nghiên cứu năm 2024 ghi nhận ảnh hưởng bất lợi trên kiến ba khoang, vì vậy vẫn nên phun theo ngưỡng, không phun theo lịch.
Không giải quyết được
  • Sâu cuốn lá, sâu đục thân và các loài sâu miệng nhai: triflumezopyrim chỉ được đăng ký cho rầy. Khi ruộng có cả rầy và sâu, cần một hoạt chất khác cho sâu.
  • Không an toàn cho ong: độc tính cấp qua tiếp xúc với ong mật rất cao (LD50 0,39 µg/con). Cơ sở dữ liệu thuốc bảo vệ thực vật của Đại học Hertfordshire (Anh) xếp độc tính cấp qua tiếp xúc với ong ở mức cao.
  • Không giữ hiệu lực vô thời hạn: nhà sản xuất công bố hiệu lực 21 ngày; một nghiên cứu độc lập tại Ấn Độ dựa trên dư lượng ước tính hiệu lực với rầy nâu khoảng 7–10 ngày. Cần thăm đồng lại, không mặc định ruộng đã an toàn trong ba tuần.
  • Không miễn nhiễm với kháng thuốc: rầy nâu có thể kháng triflumezopyrim (xem phần tiếp theo).

Rầy Nâu Có Thể Kháng Triflumezopyrim Không?

Có. Số liệu cho thấy quá trình này đang diễn ra, dù còn chậm:

  • Trung Quốc 2020–2023: mức kháng trung bình của rầy nâu với triflumezopyrim tăng từ 2,5 lên 7,1 lần (Ye và cộng sự, 2024).
  • Ấn Độ 2024–2025: 14 quần thể từ 8 bang có mức kháng 3,28–13,13 lần; hoạt chất vẫn còn hiệu quả (Naik và cộng sự, 2026).
  • Trong phòng thí nghiệm: chọn lọc liên tục qua 29 thế hệ tạo ra dòng rầy nâu kháng 155 lần. Dòng rầy kháng này có chỉ số thích nghi chỉ bằng 0,62 so với dòng mẫn cảm, tức sinh trưởng và sinh sản kém hơn (Qin và cộng sự, 2021).

Rầy nâu có thể sinh nhiều lứa trong một vụ lúa. Nếu mỗi lứa đều gặp cùng một hoạt chất, những cá thể mang gen kháng sống sót và sinh sản, tỷ lệ rầy kháng trong quần thể tăng dần qua từng lứa. Đó là con đường imidacloprid đã đi qua.

Nguyên tắc luân phiên theo IRAC

IRAC (bản phân loại 2025) viết rằng nguy cơ kháng chéo giữa các phân nhóm trong cùng một nhóm cao hơn giữa các nhóm khác nhau, vì vậy nên tránh luân phiên giữa các phân nhóm, ví dụ từ 4E sang 4A. Chỉ cân nhắc khi không có thuốc hiệu quả thuộc nhóm khác được đăng ký, sau khi hỏi ý kiến chuyên môn tại địa phương.

Áp dụng cho ruộng lúa: nếu lứa rầy trước đã dùng triflumezopyrim (4E), lứa sau nên chọn thuốc không thuộc nhóm 4, ví dụ pymetrozine (nhóm 9B) như Chess 50WG. Chính Corteva khuyến cáo: nếu áp lực rầy cao, dùng pymetrozine cho lứa rầy nâu thứ hai, khoảng 21–25 ngày sau khi phun PEXENA. Xem thêm cách chọn thuốc trừ sâu theo nhóm IRAC.

Cách Dùng Pexena (Triflumezopyrim) Hiệu Quả

Từ cơ chế và những giới hạn ở trên, cách dùng triflumezopyrim có thể suy ra từng bước:

Rầy nâu Nilaparvata lugens trưởng thành đậu trên mặt lá, ảnh cận cảnh
Rầy nâu (Nilaparvata lugens) trưởng thành. Rầy non và trưởng thành tập trung ở gốc và bẹ lúa, sát mặt nước, nên thuốc cần được phun tới phần thấp của bụi lúa.
01
Thăm đồng và phun theo ngưỡng
Vạch gốc lúa ở nhiều điểm theo đường chéo ruộng, đếm rầy trên bụi. Báo cáo JMPR (2017) ghi nhận triflumezopyrim được dùng sớm, khi mật số rầy vừa đạt ngưỡng gây hại kinh tế. Corteva khuyến cáo phun PEXENA 106SC ngay khi thấy rầy xuất hiện, ở giai đoạn 35–45 ngày sau sạ, 1 lần/vụ. Xem ngưỡng phòng trừ rầy nâu và cách nhận biết rầy nâu theo giai đoạn lúa.
02
Chọn đúng dạng thuốc theo đối tượng
PEXENA 106SC được đăng ký cho rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ; PEXENA 20WG chỉ đăng ký cho rầy nâu. Ruộng có rầy lưng trắng (xem cách nhận biết) nên chọn dạng 106SC. Theo hướng dẫn của nhà sản xuất: PEXENA 106SC dùng 250 ml/ha cho rầy nâu (1 gói 20 ml cho khoảng 800 m²) và 300 ml/ha cho rầy lưng trắng; PEXENA 20WG dùng 125 g/ha (1 gói 10 g cho khoảng 800 m²). Lượng nước 400–500 lít/ha; không tự tăng liều.
03
Phun tới gốc lúa
Rầy sống ở phần thấp của bụi lúa. Hạ béc, phun đủ lượng nước theo nhãn để thuốc xuống được gốc và bẹ, không chỉ làm ướt lá trên.
04
Đánh giá sau vài ngày, không đánh giá sau vài giờ
Rầy trúng thuốc lờ đờ và ngừng hút nhựa trước khi chết. Đếm lại số rầy còn sống, còn di chuyển sau 3–7 ngày, và thăm đồng lại trước khi lứa rầy mới nở.
05
Bảo vệ ong và nguồn nước
Không phun khi ong đang kiếm ăn trên ruộng hoặc trên cây trồng, cỏ đang nở hoa gần bờ ruộng. Không để thuốc trôi xuống ao, kênh; nhãn an toàn của PEXENA 106SC xếp sản phẩm vào nhóm nguy hại cấp tính cấp 3 với môi trường thủy sinh.
06
Không dùng cho hai lứa rầy liên tiếp
Lứa sau chọn thuốc thuộc nhóm IRAC khác nhóm 4. Ghi lại tên thuốc, nhóm IRAC và ngày phun cho mỗi lần xử lý để chọn đúng nhóm cho lần sau.

Nếu chưa chắc ruộng đang có rầy nâu hay rầy lưng trắng, hoặc cần tính lượng thuốc theo diện tích, có thể gửi ảnh gốc lúa cho đội ngũ Quốc Việt Agri để được xem trước khi chọn sản phẩm.

Sản Phẩm Trừ Rầy Tại Quốc Việt Agri

Hai sản phẩm đầu chứa triflumezopyrim. Hai sản phẩm sau chứa pymetrozine (nhóm 9B), dùng cho những lứa rầy khác trong chương trình luân phiên:

Phổ rầy rộng nhất
PEXENA 106SC – Gói 20ml
Triflumezopyrim 106 g/L, dạng huyền phù, của Corteva. Đăng ký cho rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ trên lúa. Một gói dùng cho khoảng 800 m² khi trị rầy nâu. Phù hợp khi ruộng có nhiều loài rầy cùng lúc.
Xem sản phẩm →
PEXENA 20WG – Gói 10g
Triflumezopyrim 20%, dạng cốm phân tán trong nước. Đăng ký cho rầy nâu trên lúa. Liều nhà sản xuất khuyến cáo 125 g/ha, tức 1 gói cho khoảng 800 m².
Xem sản phẩm →
CHESSIN 600WP – Gói 100g
Sản phẩm của Quốc Việt Agri: dinotefuran 20% (IRAC 4A) + pymetrozine 40% (IRAC 9B), đăng ký cho rầy nâu trên lúa. Pymetrozine làm rầy ngừng chích hút; dinotefuran lưu dẫn trong cây. Vì dinotefuran cũng thuộc nhóm 4, nên dùng CHESSIN cho lứa rầy mà lứa trước đó không phun triflumezopyrim.
Xem sản phẩm →
CHESS 50WG – Gói 25g
Pymetrozine 50%, nhóm IRAC 9B, không thuộc nhóm 4. Lựa chọn phù hợp cho lứa rầy ngay sau lứa đã xử lý bằng triflumezopyrim.
Xem sản phẩm →

Bảng Tra Nhanh

Mục Nội dung
Hoạt chất Triflumezopyrim, nhóm mesoionic
Nhóm IRAC 4E: chặn thụ thể nicotinic acetylcholine (khác 4A neonicotinoid là kích thích thụ thể)
Nguồn gốc DuPont (nay là Corteva); nhóm chất được phát hiện từ một chương trình tìm thuốc trừ nấm
Sản phẩm tại Việt Nam PEXENA 106SC (rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ/lúa); PEXENA 20WG (rầy nâu/lúa)
Liều theo nhà sản xuất 106SC: 250 ml/ha rầy nâu, 300 ml/ha rầy lưng trắng; 20WG: 125 g/ha; 1 lần/vụ, 35–45 ngày sau sạ
Biểu hiện trên rầy Lờ đờ, ngừng hút nhựa, chết sau đó; không rớt hàng loạt ngay sau phun
Kháng chéo với imidacloprid Không ghi nhận trong các nghiên cứu tại Trung Quốc và Ấn Độ
Mức kháng hiện tại Thấp nhưng đang tăng: 2,5 lên 7,1 lần (Trung Quốc 2020–2023)
Không trị Sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu miệng nhai
Lưu ý an toàn Rất độc với ong; tránh để thuốc xuống ao, kênh
Luân phiên Lứa sau dùng thuốc ngoài nhóm 4, ví dụ pymetrozine (9B)

Kết Luận

Triflumezopyrim ra đời từ những sản phẩm phụ trong một chương trình tìm thuốc trừ nấm, và trở thành hoạt chất tác động lên cùng thụ thể với imidacloprid nhưng theo cách ngược lại. Đó là lý do nó vẫn diệt được những quần thể rầy nâu đã kháng imidacloprid hàng nghìn lần. Số liệu 2020–2023 cho thấy rầy nâu cũng đang bắt đầu thích nghi với chính hoạt chất này. Dùng theo ngưỡng, đúng dạng thuốc, và không dùng cho hai lứa rầy liên tiếp là cách giữ hiệu lực của nó lâu hơn con đường mà imidacloprid đã đi qua.

Nguồn Tham Khảo

  • Zhang W. (2017). Accounts of Chemical Research 50:2381–2388. doi:10.1021/acs.accounts.7b00311 (quá trình phát hiện nhóm mesoionic tại DuPont).
  • Zhang W., Holyoke C.W. và cộng sự (2017). Bioorganic & Medicinal Chemistry Letters 27:16–20. doi:10.1016/j.bmcl.2016.11.042 (phát hiện triflumezopyrim).
  • Cordova D. và cộng sự (2016). Insect Biochemistry and Molecular Biology 74:32–41. doi:10.1016/j.ibmb.2016.04.008 (cơ chế tác động trên thụ thể nicotinic acetylcholine).
  • FAO/WHO JMPR (2017). Triflumezopyrim (303), báo cáo đánh giá dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, mục 5.38.
  • IRAC. Mode of Action Classification Scheme, phiên bản 10.2 (2022) và 11.3 (2025).
  • Liao X. và cộng sự (2021). Insect Science 28:115–126. doi:10.1111/1744-7917.12764 (mức kháng của rầy nâu tại Trung Quốc 2015–2018).
  • Zhang Y.C. và cộng sự (2020). Pesticide Biochemistry and Physiology 167:104608. doi:10.1016/j.pestbp.2020.104608 (độ mẫn cảm với triflumezopyrim và kháng chéo, Trung Quốc 2015–2019).
  • Ye W.N. và cộng sự (2024). Pesticide Biochemistry and Physiology 205:106173 (mức kháng triflumezopyrim tại Trung Quốc 2020–2023).
  • Naik V.C.B. và cộng sự (2026). Pesticide Biochemistry and Physiology 221 (mức kháng của 14 quần thể rầy nâu tại Ấn Độ 2024–2025).
  • Qin Y. và cộng sự (2021). Pest Management Science 77:5566–5575. doi:10.1002/ps.6598 (chọn lọc kháng trong phòng thí nghiệm).
  • Sravanthi và cộng sự (2025). Indian Journal of Entomology 87(3):693–696. doi:10.55446/IJE.2024.1674
  • Zhu J. và cộng sự (2018). Ecotoxicology 27:411–419. doi:10.1007/s10646-018-1904-x
  • Mishra R. và cộng sự (2022). Environmental Science and Pollution Research 29:30206–30216. doi:10.1007/s11356-022-18551-1
  • Khan M.M. và cộng sự (2024). Chemosphere 365:143386.
  • Fan T. và cộng sự (2020). Journal of Agricultural and Food Chemistry 68:7086–7092 (sự vận chuyển của triflumezopyrim trong cây lúa).
  • Journal of Integrative Agriculture (2020). Ảnh hưởng của triflumezopyrim lên hành vi chích hút của rầy (kỹ thuật ghi điện thế EPG).
  • University of Hertfordshire. Pesticide Properties DataBase (PPDB): Triflumezopyrim.
  • Umetsu N., Shirai Y. (2026). Journal of Pesticide Science 51:1–43. doi:10.1584/jpestics.d25-078
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, Phụ lục I: Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.
  • Corteva Agriscience Việt Nam. Phiếu an toàn hóa chất PEXENA 106SC (2021) và hướng dẫn sử dụng PEXENA 106SC.
  • Syngenta Việt Nam. Thông tin sản phẩm PEXENA 20WG.
  • Ảnh rầy nâu (ảnh bìa và ảnh trong bài): portioid / iNaturalist qua Wikimedia Commons, CC BY 4.0 (ảnh bìa đã cắt khung).

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Pexena là thuốc gì, trị rầy gì?

PEXENA là thuốc trừ rầy chứa hoạt chất triflumezopyrim, nhóm IRAC 4E. Tại Việt Nam có hai dạng: PEXENA 106SC được đăng ký cho rầy nâu, rầy lưng trắng và rầy nâu nhỏ trên lúa; PEXENA 20WG được đăng ký cho rầy nâu trên lúa.

Pexena của Corteva hay Syngenta?

Theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, tổ chức đăng ký PEXENA 106SC và PEXENA 20WG là Công ty TNHH Corteva Agriscience Việt Nam. Bao bì PEXENA 106SC mang thương hiệu Corteva, còn bao bì PEXENA 20WG mang thương hiệu Syngenta. Cả hai đều chứa triflumezopyrim.

Triflumezopyrim có trị được rầy nâu đã kháng imidacloprid không?

Có, theo các nghiên cứu hiện có. Tại Trung Quốc giai đoạn 2015–2018, rầy nâu kháng imidacloprid 2.195–6.899 lần nhưng chỉ kháng triflumezopyrim 1,3–7,3 lần. Nguyên nhân là triflumezopyrim chặn thụ thể thần kinh, còn imidacloprid kích thích thụ thể đó.

Vì sao phun PEXENA mà rầy không rớt ngay?

Rầy trúng triflumezopyrim không bị kích thích mà trở nên lờ đờ và ngừng hút nhựa trước khi chết. Nên đánh giá bằng số rầy còn sống, còn hoạt động sau 3–7 ngày, không phải số rầy rớt sau vài giờ.

Sau khi phun Pexena nên luân phiên thuốc gì?

Lứa rầy sau nên dùng thuốc không thuộc nhóm IRAC 4, ví dụ pymetrozine (nhóm 9B) như CHESS 50WG. Corteva cũng khuyến cáo: nếu áp lực rầy cao, dùng pymetrozine cho lứa rầy nâu thứ hai, khoảng 21–25 ngày sau khi phun PEXENA.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog