Cây con trong bầu đất với rễ trắng, thuốc kích rễ loại nào

Kích Rễ Bằng Gì? IBA, NAA, Nitrophenolate, Humic Và Lân Khác Nhau Thế Nào

Cuối tháng mười, mưa ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ thưa dần. Đây cũng là lúc vài nọc tiêu bắt đầu vàng lá, vài cây sầu riêng rũ đọt sau những tuần đất ngập nước, và câu hỏi quen thuộc lại đến: tưới thuốc kích rễ gì cho cây ra rễ lại? Trên kệ hàng có ít nhất năm nhóm sản phẩm cùng mang chữ "kích rễ": IBA, NAA, nhóm nitrophenolate, humic và các loại phân giàu lân. Năm nhóm này tác động lên cây theo năm cách khác nhau, hợp với những việc khác nhau, và không nhóm nào làm sống lại bộ rễ đã bị nấm thối rễ ăn hỏng.

Bài này giải thích từng nhóm làm gì với rễ theo các nghiên cứu đã mở, nhóm nào hợp với giâm cành, nhóm nào hợp với cây vừa trồng, nhóm nào hợp với đất, và khi nào việc cần làm trước tiên không phải là tưới thêm một chai kích rễ.

Trả lời nhanh

Thuốc kích rễ là tên chợ gọi chung cho năm nhóm khác nhau. IBA và NAA là auxin, chất trực tiếp ra lệnh cho mô cây tạo rễ mới, hợp nhất cho giâm cành, chiết cành; dùng quá liều thì rễ ra ít hơn. Nitrophenolate giúp cây chịu sốc và phục hồi sau cấy, bứng, hạn, lạnh; bằng chứng tăng rễ của nhóm này còn mỏng. Humic tưới gốc làm rễ tơ phân nhánh nhiều hơn, trung bình khoảng 21% khối lượng rễ trong một phân tích gộp, nhưng kết quả phụ thuộc nguồn humic và cây trồng. Lân nuôi rễ đang có, không tạo ra rễ mới, và phải nằm gần rễ mới có tác dụng. Cây vàng lá, thối rễ sau mùa mưa cần thoát nước và trị bệnh trước, kích rễ sau.

Thuốc Kích Rễ Là Gì? Năm Nhóm, Năm Cách Tác Động

Rễ mới mọc ra khi một nhóm tế bào trong thân, cành hay rễ cũ nhận tín hiệu chuyển sang phân chia và biệt hóa thành rễ. Tín hiệu chính là auxin. Trang nhân giống cây của Viện Khoa học Thực phẩm và Nông nghiệp, Đại học Florida (UF/IFAS) viết thẳng: auxin là hormone quan trọng nhất trong việc ra rễ. Các nhóm còn lại không phát tín hiệu đó trực tiếp; chúng giúp cây khỏe hơn để tự làm việc ấy, hoặc cung cấp vật liệu cho rễ lớn. Phân biệt được điểm này là chọn đúng được sản phẩm.

Nhóm Tác động lên rễ Hợp nhất cho
IBA, NAA (auxin) Ra lệnh trực tiếp cho mô cây tạo rễ mới Giâm cành, chiết cành, hom giống
Nitrophenolate Giúp cây giữ sức và phục hồi khi bị sốc; tác động lên rễ chưa rõ Cây vừa cấy, vừa bứng, gặp hạn, lạnh
Humic Kích rễ tơ phân nhánh, tăng bơm hút dinh dưỡng ở màng rễ Đất bạc màu, rễ tơ sau thu hoạch
Lân Nuôi rễ đang có; lân gần rễ thì rễ phân nhánh về phía đó Đất nghèo lân, bón lót, bón gốc

IBA Và NAA: Auxin, Chất Thật Sự Ra Lệnh Cho Rễ Mọc

Cây tự làm ra auxin của riêng nó, gọi là IAA. Nhưng IAA không bền: theo UF/IFAS, ánh sáng và một enzyme trong cây phân hủy nó nhanh. Vì thế người làm vườn ươm dùng hai auxin bền hơn là IBA và NAA. Bài tổng quan đăng trên Physiologia Plantarum năm 1993 giải thích vì sao IBA ra rễ tốt hơn IAA: IBA bền hơn, giữ được nồng độ cao lâu hơn, và ở những giống dễ ra rễ, cây chuyển IBA thành IAA tích lại ngay ở gốc cành giâm trước khi rễ xuất hiện. Nói cách khác, IBA là một kho auxin nhả chậm đặt đúng chỗ cần ra rễ.

IBA Kích Rễ Khác NAA Thế Nào

NAA là auxin tổng hợp, mạnh hơn IBA. UF/IFAS xếp NAA là chất kích ra rễ hiệu quả hơn, còn IBA tác động qua việc được chuyển thành IAA trong cây. Tài liệu khuyến nông MF3105 của Đại học Bang Kansas (2013) rút ra hệ quả thực tế: vì NAA mạnh hơn nên nồng độ dùng thấp hơn, và quá nhiều auxin làm gốc cành giâm phình mô sẹo, cản việc ra rễ. Một thí nghiệm trên cây ngô non đăng trên Biologia Plantarum năm 2016 so sánh ba auxin: thêm auxin làm rễ chính mọc chậm lại, và với NAA, mức kìm hãm còn tăng dần theo thời gian, trong khi với IBA và IAA nó dịu đi sau ngày thứ hai.

Vì Sao Liều Cao Lại Ra Ít Rễ Hơn

Thí nghiệm giâm hom tiêu tại Trường Cao đẳng Làm vườn Mudigere, bang Karnataka (Ấn Độ), đăng năm 2018 trên Journal of Pharmacognosy and Phytochemistry, cho thấy rõ hình dạng của đường liều. Đây là một thí nghiệm, đăng trên tạp chí khu vực, nên con số nên đọc như một minh họa, không phải công thức pha.

Tỷ lệ hom tiêu ra rễ theo liều auxin

Phần trăm hom ra rễ; ppm là phần triệu, 1.000 ppm bằng 1 gam hoạt chất trong 1 lít dung dịch. Thanh đỏ là mức cho tỷ lệ cao nhất.

Không xử lý
43%

IBA 500 ppm
67%

IBA 1.000 ppm
70%

IBA 1.500 ppm
57%

NAA 250 ppm
63%

NAA 1.000 ppm
43%

IBA tăng tỷ lệ ra rễ tới mức 1.000 ppm rồi giảm; NAA tụt về bằng không xử lý ở 1.000 ppm. Trộn NAA với IBA ở 1.000 ppm cũng chỉ đạt 43% (Karnataka, 2018).

Hai bài học rút ra đúng cho mọi loại auxin: có một mức liều thích hợp, vượt qua nó thì rễ ít đi chứ không nhiều thêm; và NAA chạm ngưỡng đó sớm hơn IBA. Bài học thứ ba đến từ cà phê vối. Nhóm nghiên cứu của Đại học Liên bang Espírito Santo, Đại học Liên bang Viçosa và Viện Incaper (Brazil), đăng trên Revista Ciência Agronômica năm 2026, ngâm hom hai dòng cà phê vối trong IBA 400 ppm ba giờ: ở một dòng, khối lượng rễ khô tăng từ 1,577 g lên 1,982 g, khoảng 26%; ở dòng còn lại, 1,807 g so với 1,790 g, không khác gì. Cùng một liều, cùng một loài, hai dòng phản ứng khác nhau, nên với giống mới, thử trên vài chục hom trước khi làm cả lô vẫn là cách chắc nhất.

Auxin cho giâm cành

Auxin quyết định rễ có mọc ra hay không. Đúng liều thì giúp, quá liều thì cản; NAA chạm ngưỡng sớm hơn IBA, và mỗi giống phản ứng một kiểu.

Nitrophenolate Có Phải Thuốc Kích Rễ Không?

Nhóm nitrophenolate gồm ba muối natri: 5-nitroguaiacolate, o-nitrophenolate và p-nitrophenolate. Nhóm này thường được bán với chữ "kích rễ" trên bao bì, và đây là câu hỏi bà con tìm nhiều nhất trong nhóm chất kích thích. Câu trả lời theo các nghiên cứu đã mở: nhóm này giúp cây giữ sức khi bị sốc, còn bằng chứng nó làm ra rễ trên cây trồng ngoài đồng thì chưa có.

Nghiên cứu của Đại học Khoa học Sự sống Warsaw (Ba Lan) đăng trên Frontiers in Plant Science năm 2014 là bài tổng hợp đầy đủ nhất về cơ chế. Trên cải dầu, phun một lần làm năng suất cao hơn đối chứng 35% trong năm 2007, năm có đợt lạnh gây hại, nhưng chỉ 3,6% trong năm 2008; phun lần thứ hai không thêm lợi ích. Trên dưa leo, năng suất không khác có ý nghĩa. Số liệu về rễ trong bài chỉ đến từ cây Arabidopsis trong phòng thí nghiệm, dưới điều kiện gây độc kim loại. Thí nghiệm ba năm trên đậu nành của Đại học Công nghệ Koszalin và Đại học Khoa học Sự sống Lublin (Frontiers in Plant Science, 2018) ghi năng suất hạt tăng 20–30%, nhưng hàm lượng đạm và chất béo trong hạt giảm, và rễ không được đo. Ở chiều ngược lại, 28 điểm thử nghiệm trên bông của Đại học Texas A&M (Journal of Cotton Science, 2007) không thấy năng suất tăng có ý nghĩa ở điểm nào khi dùng đúng liều khuyến cáo: trung bình 1.195 so với 1.179 kg/ha.

35%

cải dầu, năm có đợt lạnh

Năm sau, không có sốc lạnh, chỉ còn 3,6% (Warsaw, 2014).

28

điểm thử trên bông

Không điểm nào tăng năng suất có ý nghĩa ở liều khuyến cáo (Texas A&M, 2007).

0

thí nghiệm ngoài đồng đo được rễ tăng

Trong các nguồn đã mở; số liệu rễ chỉ có từ cây thí nghiệm trong phòng.

Ghép ba nguồn lại, nhóm nitrophenolate hợp với vai trò giúp cây vượt sốc: cây vừa cấy, vừa bứng trồng lại, gặp hạn hay lạnh. Hiệu quả rõ nhất khi cây đang chịu sốc và nhỏ dần khi cây đã khỏe. Muốn ra rễ ở cành giâm thì cần auxin; muốn rễ tơ ở cây lớn thì xem phần humic và lân dưới đây.

Humic Kích Rễ: Có Thật, Nhưng Phụ Thuộc Nguồn Và Liều

Humic có bằng chứng về rễ rõ hơn nhóm nitrophenolate. Phân tích gộp của Đại học Monash và Đại học Adelaide (Úc), đăng trên Advances in Agronomy năm 2014, gom kết quả nhiều thí nghiệm và thấy trung bình humic tăng khối lượng thân lá khô 22±4% và khối lượng rễ khô 21±6%. Về cơ chế, nghiên cứu trên ngô non của Đại học Bang Norte Fluminense (Brazil), đăng trên Plant Physiology năm 2002, thấy axit humic chiết từ phân trùn quế làm số điểm mọc rễ bên tăng lên 7–12 lần so với đối chứng sau ba ngày, và làm hoạt động của bơm proton ở màng tế bào rễ, bộ máy giúp rễ hút dinh dưỡng, tăng 2–3 lần. Nhóm tác giả còn tìm thấy auxin bám trong cấu trúc của axit humic đó.

Nhưng cũng chính phân tích gộp 2014 chỉ ra ba điều mà bà con nên biết trước khi mua:

Nguồn

Humic từ than bùn và than non không làm tăng rễ

Humic từ phân ủ, phân chuồng tăng thân lá khoảng 28–29%; humic từ than non (lignite) tăng thân lá 12±4%, từ than bùn 4±12% (không có ý nghĩa), và cả hai không có tác dụng lên rễ.

Cây

Thân gỗ lâu năm phản ứng kém

Nhóm cây thân gỗ lâu năm nhìn chung phản ứng âm với humic trong số liệu gộp. Tác giả kết luận rất khó đưa ra một khuyến cáo chung.

Liều

Nhiều hơn không tốt hơn

Đáp ứng theo liều không tuyến tính; với humic than non, đỉnh đáp ứng nằm quanh 20 mg trên 1 kg đất.

Cách bón cũng quan trọng. Thí nghiệm của Đại học Navarra và Đại học Bách khoa Madrid (Tây Ban Nha) cùng một trung tâm nghiên cứu của doanh nghiệp phân bón, đăng trên Frontiers in Plant Science năm 2020, so humic tưới vào rễ với humic phun lá trên dưa leo: humic tưới rễ tác động qua bơm proton ở rễ, còn humic phun lá không kích hoạt bơm này, và trong bốn mức phun thử, chỉ mức 40 mg carbon trên 1 lít làm tăng khối lượng thân và rễ. Với mục tiêu rễ tơ, tưới gốc là đường đi trực tiếp hơn phun lá.

Áp vào vườn

Humic đáng dùng cho đất bạc màu, đất bón hóa học nhiều năm, và để rễ tơ mọc lại sau thu hoạch, tưới vào vùng rễ tơ dưới mép tán. Với cây lâu năm như cà phê, tiêu, sầu riêng, nên tưới thử vài hàng, so với hàng không tưới sau một tháng bằng cách đào xem rễ tơ, rồi mới làm cả vườn. Humic tưới chung với nấm Trichoderma được hay không đã có bài riêng: Trichoderma có tưới chung với humic được không?; phần giải thích humic, fulvic chi tiết nằm trong bài lợi ích của acid humic cho cây trồng.

Siêu Lân, Lân Đỏ Có Kích Rễ Không? Lân Nuôi Rễ, Không Tạo Ra Rễ

Lân cần cho rễ, nhưng theo một cách khác với auxin. Bài tổng quan của Đại học Bang Pennsylvania trên Plant Physiology năm 2011 mở đầu bằng một sự thật về đất: lân gần như không di chuyển trong đất vì nó bám vào rất nhiều thành phần của đất, và hơn 70% sinh khối trên cạn của Trái Đất mọc trên đất nghèo lân. Rễ không đợi lân chảy đến; rễ phải mọc tới chỗ có lân. Cùng phòng thí nghiệm này (Plant and Soil, 2001) cho thấy cây thích nghi bằng cách đưa rễ đi tìm lân ở tầng đất mặt, nơi lân nhiều nhất; trên đậu, chỉ riêng góc mọc của rễ đã tạo ra chênh lệch tới 6 lần về lượng lân hút được. Một bài tổng quan năm 2020 trên International Journal of Molecular Sciences nối hai câu chuyện lại: khi cây thiếu lân, mật độ rễ bên thay đổi qua chính auxin của cây.

Vì vậy bón lân không "kích" ra rễ mới theo kiểu auxin; nó nuôi những rễ đang ở gần nó, và rễ phân nhánh về phía có lân. Lân bón gốc nằm sai chỗ, xa vùng rễ tơ, thì rễ ít chạm tới. Còn lân phun lá thì phần lớn không xuống rễ, theo một thí nghiệm trên lúa mì đăng trên Frontiers in Plant Science năm 2019:

~80%

lân phun được lá hút

Khi có chất bám dính.

43%

rời khỏi lá được phun

Nơi nhận nhiều nhất là hạt, không phải rễ.

−22%

năng suất khi phun sai lúc

Phun lúc đẻ nhánh làm cháy lá.

Luận văn của Đại học Saskatchewan (Canada, 2019) trên cải dầu, lúa mì và đậu Hà Lan kết luận lân phun lá không bù được phần năng suất mất đi khi giảm lân bón gốc, và hợp nhất với vai trò bổ sung một lượng nhỏ khi đất thiếu lân.

Nhiều sản phẩm bà con quen gọi "siêu lân", "lân đỏ" là phân bón lá giàu lân, ví dụ công thức 10-60-10. Chúng có chỗ dùng đúng, như giai đoạn phân hóa mầm hoa, đã nói trong bài MKP, siêu lân hay 10-60-10. Còn mục tiêu là rễ thì lân đi qua đất: bón lót khi trồng, bón gốc vào đúng vùng rễ tơ dưới mép tán và lớp tủ gốc. Bài này chưa tìm được nghiên cứu nào trên cây ăn trái hay cây công nghiệp cho thấy lân phun lá làm tăng bộ rễ.

Lân cho rễ đi qua đất

Bón lót khi trồng, bón gốc vào vùng rễ tơ dưới mép tán; lân phun lá để dành cho giai đoạn hoa, trái.

Khi Nào Thuốc Kích Rễ Không Cứu Được Cây

Quay lại nọc tiêu vàng lá cuối mùa mưa. Trang bệnh tiêu của Đại học Nông nghiệp Kerala (Ấn Độ) ghi một chi tiết rất khớp với lúc này: khi nấm thối gốc mới hại rễ tơ, triệu chứng chỉ lộ ra sau khi ngớt mưa. Nghiên cứu ngoài đồng của Trường Đại học Tây Nguyên đăng trên Agriculture năm 2021 xác định vàng lá trên tiêu là triệu chứng của nấm Phytophthora và Fusarium tấn công rễ. Trên sầu riêng, chuyên khảo số 114 của Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Úc (ACIAR, 2004) mô tả cây con nhiễm Phytophthora có rễ tơ thối và ít đi, và đặt thoát nước tốt lên trước tiên trong quản lý. Hướng dẫn quản lý dịch hại số 74133 của Đại học California (UC IPM, cập nhật 2025) nói thẳng: quản lý nước là yếu tố quan trọng nhất; bệnh có thể phát triển chỉ sau 4–8 giờ đất bão hòa nước; và cây có vết bệnh trên thân lớn hơn khoảng một phần tư chu vi thường không hồi phục. Ở Tây Nguyên, một báo cáo của CIRAD tại hội nghị năm 2022 ghi khoảng 300.000 ha cà phê cần tái canh nhưng các lần trồng lại thất bại, chủ yếu do mật độ tuyến trùng cao trong đất.

Không nguồn nào trong số này viết đúng một câu "thuốc kích rễ không có tác dụng khi chưa thoát nước". Đó là kết luận của bài này, ghép từ các nguồn trên: rễ đang bị nấm hay tuyến trùng ăn thì rễ mới mọc ra cũng bị ăn tiếp, và đất còn úng thì rễ mới thiếu oxy. Thứ tự hợp lý là:

Bước 1 · Đào xem rễ trước khi mua gì

Bới nhẹ lớp đất dưới mép tán. Rễ tơ trắng, chắc là rễ sống; rễ nâu đen, vỏ tuột ra như ống, mùi hôi là rễ thối; rễ có nốt sưng là dấu hiệu tuyến trùng.

Bước 2 · Thoát nước

Khơi rãnh, phá chỗ nước đọng quanh gốc. Theo UC IPM, chỉ 4–8 giờ đất bão hòa nước đã đủ cho Phytophthora phát triển.

Bước 3 · Xử lý đúng nguyên nhân

Rễ thối do nấm thì dùng thuốc trị nấm trứng; rễ sưng do tuyến trùng thì xử lý tuyến trùng. Cách phân biệt nằm trong bài vàng lá thối rễ sầu riêng và bài tuyến trùng rễ hại cây trồng.

Bước 4 · Rồi mới kích rễ

Khi đất đã ráo và bệnh đã chặn, humic tưới gốc và lân bón vào vùng rễ giúp rễ tơ mọc lại. Không bứng, không cuốc sâu làm đứt thêm rễ trong lúc cây đang yếu.

Chọn Loại Nào Cho Việc Nào

Việc cần làm Nhóm hợp nhất Lưu ý
Giâm cành, chiết cành, hom giống IBA hoặc NAA Có ngưỡng liều; quá liều ra ít rễ; thử vài chục hom với giống mới
Cây vừa cấy, vừa bứng, gặp hạn hay lạnh Nitrophenolate Phun đúng lúc sốc; phun thêm lần nữa không chắc thêm lợi ích
Rễ tơ sau thu hoạch, đất bạc màu Humic tưới gốc Kết quả tùy nguồn humic; cây lâu năm nên thử vài hàng trước
Đất nghèo lân, trồng mới Lân bón lót, bón gốc Đặt vào vùng rễ tơ; lân phun lá chủ yếu đi lên chồi và trái
Vàng lá, thối rễ sau mùa mưa Chưa phải kích rễ Thoát nước, trị nấm hoặc tuyến trùng trước
Điểm Còn Hạn Chế
  • Số liệu liều auxin trên tiêu chỉ có một thí nghiệm. Thí nghiệm Karnataka 2018 đăng trên tạp chí khu vực; chưa tìm được nghiên cứu của trường đại học Việt Nam có số liệu IBA, NAA trên hom tiêu hay sầu riêng. Cách khắc phục: làm thử trên một lô hom nhỏ, ghi lại tỷ lệ ra rễ trước khi làm số lượng lớn.
  • Nhóm nitrophenolate chưa có bằng chứng tăng rễ trên cây trồng ngoài đồng. Cách khắc phục: dùng cho đúng việc giúp cây vượt sốc; muốn rễ tơ thì dùng humic và lân bón gốc.
  • Humic cho kết quả không đều trên cây thân gỗ lâu năm. Cách khắc phục: tưới thử vài hàng, đào so rễ tơ với hàng không tưới sau khoảng một tháng.
  • Không nhóm nào chữa được rễ đã thối. Cách khắc phục: thoát nước và xử lý bệnh, tuyến trùng trước, kích rễ sau.

Sản Phẩm Kích Rễ Tại Quốc Việt Agri

Mỗi sản phẩm dưới đây thuộc một nhóm ở trên. Thuốc điều hòa sinh trưởng có danh sách cây đăng ký riêng; với cây ngoài danh sách đó, bà con nhắn Zalo để đội ngũ Quốc Việt Agri trao đổi thêm.

IBA ROOTS SUPER 10SL (100 ml): nhóm IBA

IBA 10 g/lít, đăng ký kích thích sinh trưởng cho lúa và thanh long. Đong theo hướng dẫn in trên chai bằng dụng cụ chia vạch, không tự tăng nồng độ.

Xem sản phẩm →

FLOWER F95 (500 ml): nhóm NAA

α-NAA 3 g/lít kèm NPK và vi lượng, đăng ký kích thích sinh trưởng cho lúa, xoài, sầu riêng và nhãn. Pha 10 ml cho 200 lít nước, tức 0,8 ml cho bình 16 lít; cách ly 7 ngày. Đọc thêm: F95 là gì?

Xem sản phẩm →

ATONIK 1.8SL (gói 10 ml): nhóm nitrophenolate

Sản phẩm của Asahi (Nhật Bản), ba hợp chất nitrophenolate tổng 1,8%. Pha 1 gói 10 ml với 8–26 lít nước tùy cây và mục đích; với lúa là 10 ml cho bình 16 lít. Dùng khi cây vừa cấy, vừa bứng, gặp hạn hay lạnh. Đọc thêm: Atonik là gì?

Xem sản phẩm →

SUPER HUMIC QVA (1 kg): nhóm humic

Axit humic 70%, axit fulvic 3%, kali 8%, dạng bột hòa tan. Phun lá 50 g cho 20–25 lít nước; với cây ăn quả và cây công nghiệp đang kiến thiết cơ bản, bón gốc 2 kg/ha khi trồng mới hoặc sau cắt tỉa.

Xem sản phẩm →

Humic Acid (1 kg): nhóm humic, tưới gốc

Hữu cơ 71%. Rải gốc 1–2 kg cho 1.000 m², hoặc pha 1 kg với 400–500 lít nước tưới gốc.

Xem sản phẩm →

Kết Luận

Năm chai cùng ghi "kích rễ" trên kệ làm năm việc khác nhau: auxin ra lệnh cho rễ mọc ở cành giâm, nitrophenolate giúp cây qua cơn sốc, humic làm rễ tơ phân nhánh trong đất, lân nuôi những rễ nằm gần nó. Với nọc tiêu vàng lá cuối mùa mưa, việc đầu tiên vẫn là đào xem rễ và khơi rãnh thoát nước; chai kích rễ chỉ giúp được khi rễ mới mọc ra có chỗ để sống.

Nguồn Tham Khảo

  1. Rose, M.T., Patti, A.F., Little, K.R., Brown, A.L., Jackson, W.R., Cavagnaro, T.R. (2014). A meta-analysis and review of plant-growth response to humic substances: practical implications for agriculture. Advances in Agronomy 124: 37–89. Monash University, University of Adelaide. doi.org/10.1016/B978-0-12-800138-7.00002-4
  2. Canellas, L.P., Olivares, F.L., Okorokova-Façanha, A.L., Façanha, A.R. (2002). Humic acids isolated from earthworm compost enhance root elongation, lateral root emergence, and plasma membrane H+-ATPase activity in maize roots. Plant Physiology 130(4): 1951–1957. doi.org/10.1104/pp.007088
  3. De Hita, D., Fuentes, M., Fernández, V., Zamarreño, A.M., Olaetxea, M., García-Mina, J.M. (2020). Discriminating the short-term action of root and foliar application of humic acids on plant growth: emerging role of jasmonic acid. Frontiers in Plant Science 11: 493. doi.org/10.3389/fpls.2020.00493
  4. Epstein, E., Ludwig-Müller, J. (1993). Indole-3-butyric acid in plants: occurrence, synthesis, metabolism and transport. Physiologia Plantarum 88(2): 382–389. doi.org/10.1111/j.1399-3054.1993.tb05513.x
  5. Márquez, G., Alarcón, M.V., Salguero, J. (2016). Differential responses of primary and lateral roots to indole-3-acetic acid, indole-3-butyric acid, and 1-naphthaleneacetic acid in maize seedlings. Biologia Plantarum 60(2): 367–375. doi.org/10.1007/s10535-015-0576-0
  6. Sallin, V.P., Falqueto, A.R., Lira, J.M.S., Schmildt, E.R., Arantes, L.O., Dousseau-Arantes, S. (2026). Rooting response in contrasting genotypes of Coffea canephora using IBA. Revista Ciência Agronômica 57: e202492846. UFES, UFV, Incaper. doi.org/10.5935/1806-6690.v57e202492846
  7. Przybysz, A., Gawrońska, H., Gajc-Wolska, J. (2014). Biological mode of action of a nitrophenolates-based biostimulant: case study. Frontiers in Plant Science 5: 713. Warsaw University of Life Sciences. doi.org/10.3389/fpls.2014.00713
  8. Szparaga, A., Kocira, S., Kocira, A. et al. (2018). Modification of growth, yield, and the nutraceutical and antioxidative potential of soybean through the use of synthetic biostimulants. Frontiers in Plant Science 9: 1401. doi.org/10.3389/fpls.2018.01401
  9. Bynum, J.B., Cothren, J.T., Lemon, R.G., Fromme, D.D., Boman, R.K. (2007). Field evaluation of nitrophenolate plant growth regulator (Chaperone) for the effect on cotton lint yield. The Journal of Cotton Science 11: 20–25. Texas A&M University. cotton.org (PDF)
  10. Lynch, J.P. (2011). Root phenes for enhanced soil exploration and phosphorus acquisition: tools for future crops. Plant Physiology 156(3): 1041–1049. Pennsylvania State University. doi.org/10.1104/pp.111.175414
  11. Lynch, J.P., Brown, K.M. (2001). Topsoil foraging: an architectural adaptation of plants to low phosphorus availability. Plant and Soil 237(2): 225–237. doi.org/10.1023/A:1013324727040
  12. Huang, G., Zhang, D. (2020). The plasticity of root systems in response to external phosphate. International Journal of Molecular Sciences 21(17): 5955. doi.org/10.3390/ijms21175955
  13. Peirce, C.A.E., McBeath, T.M., Priest, C., McLaughlin, M.J. (2019). The timing of application and inclusion of a surfactant are important for absorption and translocation of foliar phosphoric acid by wheat leaves. Frontiers in Plant Science 10: 1532. doi.org/10.3389/fpls.2019.01532
  14. Froese, S.R.E. (2019). Response of canola, wheat and pea to foliar phosphorus fertilization in three Saskatchewan soil zones. MSc thesis, University of Saskatchewan. hdl.handle.net/10388/11812
  15. Downer, A.J., Perry, E.J., Swain, S. (2025). Phytophthora Root and Crown Rot. Pest Notes 74133, UC Statewide IPM Program, University of California. ipm.ucanr.edu
  16. O'Gara, E., Guest, D.I., Vawdrey, L., Langdon, P., Diczbalis, Y. (2004). Phytophthora diseases of durian, and durian-decline syndrome in northern Queensland, Australia. ACIAR Monograph 114: 143–151. era.dpi.qld.gov.au
  17. Nguyen Van Long, Hermann, L., Dinh Le Thao et al., Lesueur, D. (2022). Soilborne pests and diseases affecting both coffee and black pepper in Central Highlands in Vietnam. 11th Australasian Soilborne Disease Symposium, abstracts. CIRAD. agritrop.cirad.fr
  18. University of Florida IFAS. Plant Propagation: Plant hormones, auxin (2023). propg.ifas.ufl.edu
  19. Boyer, C.R., Griffin, J.J., Morales, B.M., Blythe, E.K. (2013). Use of Root-Promoting Products for Vegetative Propagation of Nursery Crops. MF3105, Kansas State University. ksre.ksu.edu (PDF)
  20. Kerala Agricultural University. Black pepper: foot rot. celkau.in
  21. Nguyen, S.D., Trinh, T.H.T., Tran, T.D., Nguyen, T.V., Chuyen, H.V., Ngo, V.A., Nguyen, A.D. (2021). Combined application of rhizosphere bacteria with endophytic bacteria suppresses root diseases and increases productivity of black pepper (Piper nigrum L.). Agriculture 11(1): 15. Trường Đại học Tây Nguyên. doi.org/10.3390/agriculture11010015
  22. Akshay, K.R., Narayana Swamy, M., Shetty, R., Ganapathi, M., Thippeshappa, G.N. (2018). Efficacy of media and growth regulators on rooting of black pepper (Piper nigrum) cuttings. Journal of Pharmacognosy and Phytochemistry SP3: 413–417. College of Horticulture, Mudigere. phytojournal.com (PDF)

Câu Hỏi Thường Gặp

Thuốc kích rễ nên chọn loại nào?

Không có một loại dùng chung cho mọi việc. Giâm cành, chiết cành dùng auxin (IBA hoặc NAA); cây vừa trồng, vừa bứng hay gặp hạn dùng nitrophenolate để giúp cây vượt sốc; rễ tơ ở cây lớn và đất bạc màu dùng humic tưới gốc; đất nghèo lân thì bón lân vào vùng rễ. Cây vàng lá, thối rễ cần thoát nước và trị bệnh trước.

Humic có kích rễ không?

Có, nhưng không đều. Phân tích gộp của Đại học Monash và Đại học Adelaide (2014) thấy humic tăng khối lượng rễ khô trung bình 21%, nhưng humic từ than bùn và than non không có tác dụng lên rễ, và cây thân gỗ lâu năm phản ứng kém. Tưới gốc tác động lên rễ trực tiếp hơn phun lá.

Siêu lân, lân đỏ có kích rễ không?

Lân nuôi rễ đang có chứ không ra lệnh cho rễ mới mọc như auxin. Lân gần như không di chuyển trong đất, nên phải bón vào vùng rễ tơ. Lân phun lá phần lớn đi lên chồi, hoa và hạt; nghiên cứu trên cây trồng ngoài đồng chưa cho thấy nó làm tăng bộ rễ.

Cây vàng lá, thối rễ có nên tưới thuốc kích rễ ngay không?

Chưa nên. Đào xem rễ trước: rễ thối nâu đen, mùi hôi là do nấm; rễ có nốt sưng là tuyến trùng. Thoát nước và xử lý đúng nguyên nhân trước, vì rễ mới mọc ra trong đất úng hoặc đất còn nấm bệnh sẽ bị hại tiếp. Khi đất ráo và bệnh đã chặn, humic và lân bón gốc giúp rễ tơ mọc lại.

Atonik có phải thuốc kích rễ không?

Atonik thuộc nhóm nitrophenolate, giúp cây giữ sức và phục hồi khi bị sốc như cấy, bứng, hạn, lạnh. Các nghiên cứu ngoài đồng cho thấy hiệu quả lên năng suất không đều, và chưa có bằng chứng nhóm này làm tăng rễ trên cây trồng. Muốn ra rễ ở cành giâm thì dùng IBA hoặc NAA.

Đội Chuyên Môn Quốc Việt Agri

Bà con cần hỏi thêm?

Chụp ảnh lá, gốc và một nắm rễ vừa đào lên rồi gửi qua Zalo, đội ngũ Quốc Việt Agri xem và chia sẻ thông tin cùng bà con.

Nhắn Zalo · 096 994 2349

Phản hồi sớm nhất sau khi đội ngũ Quốc Việt Agri nhận tin · 6:00–20:00

Trụ sở: 383/1 Bà Hạt, Phường Vườn Lài, TP.HCM
Fulfillment Center Sài Gòn: 02 Hoa Hồng, Phường Cầu Kiệu, TP.HCM

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Thuốc kích rễ nên chọn loại nào?

Không có một loại dùng chung cho mọi việc. Giâm cành, chiết cành dùng auxin (IBA hoặc NAA); cây vừa trồng, vừa bứng hay gặp hạn dùng nitrophenolate để giúp cây vượt sốc; rễ tơ ở cây lớn và đất bạc màu dùng humic tưới gốc; đất nghèo lân thì bón lân vào vùng rễ. Cây vàng lá, thối rễ cần thoát nước và trị bệnh trước.

Humic có kích rễ không?

Có, nhưng không đều. Phân tích gộp của Đại học Monash và Đại học Adelaide (2014) thấy humic tăng khối lượng rễ khô trung bình 21%, nhưng humic từ than bùn và than non không có tác dụng lên rễ, và cây thân gỗ lâu năm phản ứng kém. Tưới gốc tác động lên rễ trực tiếp hơn phun lá.

Siêu lân, lân đỏ có kích rễ không?

Lân nuôi rễ đang có chứ không ra lệnh cho rễ mới mọc như auxin. Lân gần như không di chuyển trong đất, nên phải bón vào vùng rễ tơ. Lân phun lá phần lớn đi lên chồi, hoa và hạt; nghiên cứu trên cây trồng ngoài đồng chưa cho thấy nó làm tăng bộ rễ.

Cây vàng lá, thối rễ có nên tưới thuốc kích rễ ngay không?

Chưa nên. Đào xem rễ trước: rễ thối nâu đen, mùi hôi là do nấm; rễ có nốt sưng là tuyến trùng. Thoát nước và xử lý đúng nguyên nhân trước, vì rễ mới mọc ra trong đất úng hoặc đất còn nấm bệnh sẽ bị hại tiếp. Khi đất ráo và bệnh đã chặn, humic và lân bón gốc giúp rễ tơ mọc lại.

Atonik có phải thuốc kích rễ không?

Atonik thuộc nhóm nitrophenolate, giúp cây giữ sức và phục hồi khi bị sốc như cấy, bứng, hạn, lạnh. Các nghiên cứu ngoài đồng cho thấy hiệu quả lên năng suất không đều, và chưa có bằng chứng nhóm này làm tăng rễ trên cây trồng. Muốn ra rễ ở cành giâm thì dùng IBA hoặc NAA.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog