Buprofezin là gì – rầy nâu bám trên bẹ lá lúa

Buprofezin Là Gì? Vì Sao Phun Xong Rầy Chưa Chết Mà Vẫn Hết Rầy

Buprofezin (IRAC 16, Nihon Nohyaku, 1984) ức chế enzyme tạo chitin: rầy non chết khi lột xác, rầy cái đẻ ít, trứng khó nở. Không diệt nhanh rầy trưởng thành nên được phối với acetamiprid (IRAC 4A) trong QVA BA ĐĂNG 500WP. Tác động chủ yếu qua tiếp xúc: phun tới gốc, đánh giá sau 5–7 ngày, luân phiên nhóm IRAC khác ở lứa sau. Ít ảnh hưởng bọ xít mù xanh.

Trả lời nhanh

Buprofezin là hoạt chất điều hòa sinh trưởng côn trùng, IRAC nhóm 16 (ức chế tổng hợp chitin), do Nihon Nohyaku (Nhật Bản) phát triển và thương mại hóa tại Nhật từ năm 1984. Hoạt chất làm rầy non, rệp non không tạo được lớp vỏ mới nên chết khi lột xác, đồng thời làm rầy cái đẻ ít trứng và trứng khó nở.

Vì không diệt nhanh rầy trưởng thành, buprofezin thường được phối với một hoạt chất tác động nhanh. QVA BA ĐĂNG 500WP chứa acetamiprid 150 g/kg + buprofezin 350 g/kg, đăng ký cho rầy nâu, bọ trĩ trên lúa và rệp sáp giả trên cà phê.

Buprofezin Ra Đời Như Thế Nào

Mùa lúa năm 1979, tại trạm thí nghiệm Chikugo, tỉnh Fukuoka, đảo Kyushu (Nhật Bản), các nhà khoa học của Trạm Thí nghiệm Nông nghiệp Quốc gia Kyushu theo dõi những ô ruộng không phun thuốc. Mật độ rầy nâu lên tới 7.000 con trên 10 khóm lúa, và đến giữa tháng 10, 95% diện tích không phun thuốc bị cháy rầy.

Trên các ô khác, họ thử một hợp chất mới của công ty Nihon Nohyaku, mang mã số NNI-750. Hợp chất này có một điểm lạ: phun xong, rầy không chết ngay. Thế nhưng 17 ngày sau, mật độ rầy trên ô xử lý chỉ còn 10–20 con trên 10 khóm, trong khi ô dùng thuốc nhóm carbamate để so sánh vẫn bị hại 54,5% diện tích.

Hợp chất đó là buprofezin, được thương mại hóa tại Nhật từ năm 1984 với tên Applaud. Khi tổng kết ba năm thí nghiệm 1979–1981 trên tạp chí Applied Entomology and Zoology năm 1986, trạm Kyushu viết rằng hoạt chất "không có tác dụng diệt tức thời" nhưng giữ hiệu lực trên rầy non lâu hơn các thuốc thông thường. Một hoạt chất không diệt nhanh mà vẫn làm sạch ruộng: lời giải nằm ở cách rầy lớn lên.

1979–1981
Thí nghiệm đồng ruộng tại Chikugo, Kyushu (Nhật Bản).
1983
Nihon Nohyaku công bố cơ chế diệt rầy non và trứng rầy nâu.
1984
Buprofezin được thương mại hóa tại Nhật Bản (tên Applaud).
2016
Đích tác động phân tử, enzyme chitin synthase 1, được xác định bằng công nghệ chỉnh sửa gen.
2024
Đột biến kháng trên rầy nâu được xác nhận trực tiếp bằng chỉnh sửa gen tại Đại học Nông nghiệp Nam Kinh.

Rầy Mẹ Vẫn Sống Nhưng Lứa Sau Không Nở

Năm 1985, các nhà khoa học của Nihon Nohyaku công bố trên tạp chí Applied Entomology and Zoology một thí nghiệm đặt rầy nâu trưởng thành lên cây lúa đã phun buprofezin. Rầy mẹ phần lớn vẫn sống. Nhưng số rầy non của lứa sau chỉ còn 0–6% so với đối chứng ở nồng độ 250 ppm, và 0–2% ở 1.000 ppm.

Rầy cái tiếp xúc thuốc trong vòng 24 giờ sau khi vũ hóa đẻ ít trứng hơn hẳn. Với rầy cái lớn tuổi hơn, trứng vẫn được đẻ ra, phôi phát triển tới giai đoạn hình thành điểm mắt rồi dừng lại, không nở. Trước đó hai năm, nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận khi phun trực tiếp lên trứng, tỷ lệ nở chỉ còn 43,3% ở 250 ppm và 9,7% ở 1.000 ppm.

Buprofezin không diệt nhanh rầy mẹ. Hoạt chất chặn lứa rầy kế tiếp, từ trứng đến rầy non.

Với ruộng lúa, chặn lứa sau là chặn đúng chỗ nguy hiểm. Rầy nâu gây cháy rầy khi mật độ bùng lên qua các lứa nối tiếp. Theo một bài tổng quan năm 2013 của Tổ chức Nghiên cứu Nông nghiệp và Thực phẩm Nhật Bản (NARO) trên tạp chí Frontiers in Microbiology, đợt dịch rầy nâu kèm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá ở Đồng bằng sông Cửu Long năm 2006–2007 làm hại nặng hơn 485.000 ha lúa, mất khoảng 828.000 tấn thóc, và Việt Nam đã tạm dừng xuất khẩu gạo.

0–6%
số rầy non lứa sau còn lại khi rầy mẹ sống trên lúa phun buprofezin 250 ppm (Nihon Nohyaku, 1985)
1984
năm buprofezin được thương mại hóa tại Nhật Bản
IRAC 16
nhóm ức chế tổng hợp chitin loại 1

Cách Buprofezin Làm Rầy Non Không Lột Xác Được

Rầy non lớn lên qua 5 lần lột xác. Mỗi lần, nó phải tạo một lớp vỏ mới bên dưới lớp vỏ cũ, rồi chui ra. Thành phần chính tạo độ cứng cho lớp vỏ là chitin, cùng loại chất làm nên vỏ tôm, vỏ cua.

Năm 1985, Nihon Nohyaku công bố trên tạp chí Agricultural and Biological Chemistry: ở nồng độ 10 ppm, buprofezin làm rầy non giảm 47% lượng chitin tổng hợp. Ở 50 ppm, rầy non tuổi 5 không tạo được lớp vỏ mới và 100% chết trước khi thành rầy trưởng thành. Rầy chết ở tư thế đang lột xác: không thoát ra được khỏi lớp vỏ cũ, mất nước và thâm đen.

Rầy non tiếp xúc buprofezin → Tổng hợp chitin bị ức chế → Không tạo được vỏ mới → Chết khi lột xác

Thời Điểm Rầy Non Mẫn Cảm Nhất

Rầy non không mẫn cảm như nhau trong suốt một tuổi. Năm 2000, các nhà khoa học của Nihon Nohyaku công bố trên Japanese Journal of Applied Entomology and Zoology: với rầy non tuổi 4, nồng độ gây chết một nửa số rầy là 570 ppm khi vừa lột xác xong, nhưng chỉ 0,47 ppm khi rầy được 40–50 giờ tuổi, tức mẫn cảm hơn khoảng 1.200 lần.

Từ đây suy ra hai điều. Thứ nhất, thuốc phải còn trên cây đủ lâu để mỗi con rầy non đi tới thời điểm mẫn cảm của nó; vì vậy hiệu lực kéo dài của buprofezin quan trọng hơn tốc độ diệt. Thứ hai, theo một nghiên cứu năm 1989 trên tạp chí của Đại học Nông nghiệp Hoa Nam (Trung Quốc), buprofezin tác động chủ yếu qua tiếp xúc; rầy non nấp trong bẹ lá không bị ảnh hưởng khi chỉ phun lên lá. Thuốc cần phủ tới gốc lúa, nơi rầy nâu sống.

Đích Tác Động Của Buprofezin Được Xác Định Sau Hơn 30 Năm

Trong nhiều năm, chính các nhà phát minh cũng chưa chắc buprofezin tác động vào đâu. Năm 1986, Nihon Nohyaku phát hiện tiêm hormone lột xác 20-hydroxyecdysone có thể cứu phần lớn rầy non đã nhiễm buprofezin ở liều thấp, và giúp rầy cái phục hồi khả năng đẻ trứng. Họ cho rằng hoạt chất tác động lên quá trình trao đổi hormone lột xác.

Lời giải đến năm 2016. Một nhóm nghiên cứu quốc tế gồm Viện Sinh học Phân tử và Công nghệ Sinh học FORTH, Đại học Crete (Hy Lạp), Viện Rothamsted (Anh), Bayer (Đức), Đại học Ghent (Bỉ) cùng các đối tác, công bố trên tạp chí PNAS: họ dùng công nghệ chỉnh sửa gen CRISPR tạo đột biến trên gen chitin synthase 1 (CHS1) ở ruồi giấm. Ruồi mang đột biến kháng mạnh với buprofezin, với nhóm benzoylurea và với etoxazole. Cả ba nhóm hoạt chất cùng tác động trực tiếp lên một enzyme: enzyme tạo chitin.

Trên chính rầy nâu, năm 2023, Đại học Nông nghiệp Nam Kinh (Trung Quốc) cùng các đối tác ở Hy Lạp và Hoa Kỳ tìm thấy đột biến G932C trên gen CHS1 ở dòng rầy kháng hơn 10.000 lần. Năm 2024, nhóm ở Nam Kinh đưa đúng đột biến này vào rầy nâu bằng CRISPR: rầy mang đột biến kháng buprofezin 94,9 lần, nhưng sức sống chỉ còn khoảng một phần ba so với rầy bình thường.

Thú vị

Dù khoa học đã xác định được enzyme đích, bảng phân loại của IRAC vẫn ghi cơ chế của nhóm 16 là "chưa xác định đầy đủ". Kết quả năm 1986 về hormone lột xác cũng không sai: các nghiên cứu sau này vẫn ghi nhận buprofezin ảnh hưởng tới các gen của hệ hormone lột xác, ví dụ trên rầy lưng trắng (Đại học Quý Châu, 2023), nhưng đích tác động trực tiếp là enzyme tạo chitin. Đây là một ví dụ về việc hiểu biết khoa học được hoàn thiện dần qua nhiều thập kỷ.

Vì Sao Buprofezin Ít Ảnh Hưởng Đến Thiên Địch

Trên ruộng lúa, bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis) là thiên địch ăn trứng và rầy non của rầy nâu. Năm 1996, Cục Phát triển Nông thôn Hàn Quốc (RDA) và Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI, Philippines) công bố trên Korean Journal of Applied Entomology: buprofezin độc với rầy nâu gấp khoảng 2.700 lần so với bọ xít mù xanh, và liều dưới gây chết không làm giảm tuổi thọ hay sức sinh sản của bọ xít.

Năm 2008, Đại học Nông nghiệp Nam Kinh thử 14 loại thuốc trên bọ xít mù xanh, công bố trên tạp chí Scientia Agricultura Sinica. Buprofezin chỉ làm chết 1,7% bọ xít trưởng thành, trong khi carbosulfan, thiamethoxam, imidacloprid và fipronil (hiện không có trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) làm chết 70–100%.

Điều này quan trọng vì rầy nâu có thể bùng phát mạnh hơn sau khi phun sai thuốc. Các thí nghiệm của IRRI năm 1980 và 1982, công bố trên tạp chí Environmental Entomology, cho thấy một số thuốc phổ rộng, gồm deltamethrin thuộc nhóm cúc tổng hợp, làm rầy nâu tái bùng phát. Trên giống lúa nhiễm rầy, mật độ rầy sau khi phun cao hơn ruộng không phun tới khoảng 74 lần, chủ yếu vì thuốc kích thích rầy sinh sản.

Tuy nhiên, "ít hại" không có nghĩa là không có tác động. Năm 2024, Đại học Nông nghiệp Nam Kinh ghi nhận buprofezin ở liều khuyến cáo làm chậm quá trình lột xác của nhện sói, một thiên địch quan trọng khác trên ruộng lúa, dù không làm nhện chết.

Rầy Nâu Kháng Buprofezin: Trung Quốc Và Việt Nam

Buprofezin là ví dụ rõ về việc một hoạt chất tốt có thể mất hiệu lực khi bị dùng quá nhiều. Tại Trung Quốc, theo Đại học Nông nghiệp Nam Kinh và Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Chiết Giang, phần lớn quần thể rầy nâu còn mẫn cảm trước năm 2004, rồi mức kháng tăng lên tới 28 lần. Đến năm 2016, mọi quần thể được khảo sát đều kháng ở mức 839–3.241 lần; các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho biết buprofezin đã được rút khỏi khuyến cáo trừ rầy nâu tại nước này từ năm 2013. Khảo sát 2020–2023 vẫn ghi nhận mức kháng "cực cao".

Việt Nam ở tình trạng khác hẳn. Năm 2018, Viện Bảo vệ thực vật (Hà Nội) và Đại học Aarhus (Đan Mạch) công bố trên tạp chí PLOS ONE kết quả khảo sát rầy nâu ở 9 tỉnh từ đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung đến Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 2015–2017. Mức kháng buprofezin chỉ ở mức thấp đến trung bình, cao nhất khoảng 24 lần tại An Giang và Sóc Trăng. Các tác giả kết luận tình trạng kháng thuốc của rầy nâu ở Việt Nam "chưa ở mức báo động", với xu hướng miền Nam cao hơn miền Trung và miền Bắc.

Rầy còn có một cách kháng thuốc bất ngờ. Năm 2023, Đại học Nông nghiệp Nam Kinh và Đại học Exeter (Anh) công bố trên tạp chí PLOS Pathogens: một số quần thể rầy nâu ở Vân Nam mang trong cơ thể vi khuẩn Serratia marcescens, loài có khả năng phân giải buprofezin. Rầy mẫn cảm được cấy vi khuẩn này trở nên kháng thuốc; rầy kháng được cho dùng kháng sinh lại mẫn cảm trở lại.

Điểm dễ hiểu sai

Mức kháng thấp ở Việt Nam là lợi thế cần giữ, không phải lý do để phun buprofezin liên tục. Bài học từ Trung Quốc cho thấy khi một hoạt chất được dùng cho mọi lứa rầy, mọi vụ, mức kháng có thể tăng từ vài chục lần lên hàng nghìn lần chỉ trong khoảng một thập kỷ.

Vì Sao QVA BA ĐĂNG 500WP Phối Acetamiprid Với Buprofezin

Hai hoạt chất trong BA ĐĂNG bù cho nhau về thời điểm tác động:

  • Acetamiprid (IRAC 4A): tác động lên hệ thần kinh qua thụ thể nicotinic, lưu dẫn, tiếp xúc và vị độc, xử lý cả rầy trưởng thành và rầy non đang có mặt. Xem acetamiprid là gì.
  • Buprofezin (IRAC 16): tác động chậm nhưng kéo dài, chặn rầy non lột xác và làm giảm lứa rầy kế tiếp.

Hai nhóm IRAC khác nhau cũng có lợi về kháng thuốc. Năm 2022, Đại học Quý Châu (Trung Quốc) công bố trên tạp chí International Journal of Molecular Sciences: dòng rầy nâu kháng acetamiprid 60 lần không kháng chéo với buprofezin.

Tóm tắt
  • Lý do phối acetamiprid với buprofezin dựa trên cơ chế: một hoạt chất tác động nhanh lên thần kinh, một hoạt chất chặn lột xác và lứa sau.
  • Chưa có thí nghiệm khoa học công bố riêng cho hỗn hợp acetamiprid + buprofezin trên rầy nâu.
  • Theo chiều ngược lại, Đại học Nông nghiệp Nam Kinh và Đại học Exeter ghi nhận dòng rầy kháng buprofezin có kháng nhẹ với acetamiprid do cùng hệ enzyme giải độc. Vì vậy vẫn cần luân phiên sang nhóm khác sau mỗi lứa rầy.

Buprofezin Trên Rệp Sáp Giả Hại Cà Phê

Ngoài rầy nâu và bọ trĩ trên lúa, BA ĐĂNG 500WP còn đăng ký cho rệp sáp giả trên cà phê. Rệp sáp cũng là côn trùng chích hút lớn lên qua nhiều lần lột xác, nên cơ chế chặn tổng hợp chitin của buprofezin tác động mạnh nhất lên rệp non.

Rệp sáp trưởng thành được phủ lớp sáp trắng và thường nấp ở chùm quả, kẽ cành, gốc cuống, nơi tia phun khó tới. Vì vậy hiệu quả phụ thuộc nhiều vào thời điểm và độ phủ: phun khi rệp non mới xuất hiện nhiều, phun ướt đều những vị trí khuất. Nếu chưa chắc vườn đang bị rệp sáp hay rệp vảy, gửi ảnh cho đội ngũ Quốc Việt Agri để được hỗ trợ trước khi chọn thuốc. Xem thêm rệp sáp và bồ hóng mùa khô và Movento trị rệp sáp.

Ứng Dụng Và Hạn Chế Của Buprofezin

Làm tốt
  • Rầy non và lứa rầy kế tiếp: chặn lột xác, giảm trứng nở, giảm sức sinh sản của rầy cái.
  • Hiệu lực kéo dài: giữ mật độ rầy thấp nhiều ngày sau phun.
  • Ít ảnh hưởng thiên địch như bọ xít mù xanh, phù hợp với chương trình quản lý dịch hại tổng hợp.
Không giải quyết được
  • Không diệt nhanh rầy trưởng thành. Khi mật độ rầy trưởng thành đã cao, cần hoạt chất tác động nhanh, như acetamiprid trong BA ĐĂNG, hoặc triflumezopyrim (Pexena).
  • Không lưu dẫn đáng kể: phun không tới gốc lúa thì rầy nấp trong bẹ không bị ảnh hưởng.
  • Không dùng cho sâu ăn lá, nhện, bệnh nấm.
  • Không dùng liên tục nhiều lứa: luân phiên sang nhóm IRAC khác để giữ hiệu lực.

Cách Sử Dụng QVA BA ĐĂNG 500WP An Toàn Và Hiệu Quả

Hiểu cơ chế rồi, cách dùng gần như tự suy ra được: thuốc cần có mặt đúng nơi rầy non sống, đủ lâu để rầy non đi tới lần lột xác kế tiếp.

01
Thăm đồng, xác định đúng tuổi rầy
Vạch gốc lúa kiểm tra mật độ và tuổi rầy. Buprofezin phát huy tốt nhất khi ruộng có nhiều rầy non. Trong thí nghiệm ở Kyushu, phun vào giữa giai đoạn rầy non của lứa thứ hai (khoảng 7–14 ngày sau đỉnh rầy non mới nở) cho mật độ tích lũy chỉ khoảng 5% so với ruộng không phun. Xem ngưỡng phòng trừ rầy nâu.
02
Đúng đối tượng đăng ký
BA ĐĂNG 500WP đăng ký cho rầy nâu, bọ trĩ trên lúa và rệp sáp giả trên cà phê. Với cây trồng, dịch hại khác, chọn sản phẩm có đăng ký phù hợp. Xem thêm cách nhận biết và trị bọ trĩ.
03
Đúng liều trên nhãn
Nhãn đăng ký BA ĐĂNG 500WP: 0,15–0,2 kg/ha với 400–500 lít nước/ha; với gói QVA, dùng lượng thuốc và lượng nước in trên đúng bao bì của lô hàng. Không tự tăng nồng độ.
04
Hạ béc, phun tới gốc
Buprofezin tác động chủ yếu qua tiếp xúc. Trên lúa, hạ béc phun sát gốc nơi rầy nâu tập trung; trên cà phê, phun ướt đều chùm quả, kẽ cành.
05
Đánh giá sau 5–7 ngày, không phải sau vài giờ
Rầy trưởng thành có thể vẫn còn sau phun; điều cần xem là rầy non có giảm, lứa sau có nở lên hay không.
06
Luân phiên ở lứa sau
Lứa rầy tiếp theo đổi sang nhóm IRAC khác, ví dụ pymetrozine (nhóm 9B, Chess 50WG) hoặc triflumezopyrim (nhóm 4E, Pexena 20WG). Lưu ý dinotefuran, imidacloprid, thiamethoxam cùng nhóm 4A với acetamiprid. Xem cách chọn thuốc trừ sâu theo nhóm IRAC.
07
Ngừng phun trước thu hoạch
Theo nhãn đăng ký, ngừng phun trước khi thu hoạch 7 ngày.
An toàn

Mang găng tay, khẩu trang, quần áo dài khi pha và phun. Không phun khi trời sắp mưa hoặc gió mạnh, không để thuốc rơi xuống ao, mương, và rửa bình phun xa nguồn nước. Bảo quản thuốc xa tầm tay trẻ em.

QVA BA ĐĂNG 500WP Tại Quốc Việt Agri

Mục QVA BA ĐĂNG 500WP
Hoạt chất Acetamiprid 150 g/kg + Buprofezin 350 g/kg
Nhóm IRAC 4A + 16
Dạng thuốc WP (bột thấm nước)
Số đăng ký 6253/CNĐKT-BVTV, Công ty TNHH Việt Thắng
Đăng ký tại Việt Nam Rầy nâu, bọ trĩ/lúa; rệp sáp giả/cà phê
Quy cách Gói 100 g
Gói thuốc trừ sâu QVA BA ĐĂNG 500WP 100g chứa acetamiprid và buprofezin
QVA BA ĐĂNG 500WP: acetamiprid 150 g/kg + buprofezin 350 g/kg, bao bì Quốc Việt Agri.
Sản phẩm QVA
QVA BA ĐĂNG 500WP – Gói 100g
Phiên bản bao bì Quốc Việt Agri. Acetamiprid (IRAC 4A) tác động nhanh kết hợp buprofezin (IRAC 16) chặn lột xác và lứa sau. Đăng ký cho rầy nâu, bọ trĩ trên lúa và rệp sáp giả trên cà phê.
Xem sản phẩm →
BA ĐĂNG 500WP Việt Thắng – Gói 100g
Cùng hoạt chất và số đăng ký, bao bì Việt Thắng.
Xem sản phẩm →
Pexena 20WG – Gói 20g
Triflumezopyrim (IRAC 4E) của Corteva, đăng ký cho rầy nâu trên lúa. Lựa chọn khác nhóm để luân phiên ở lứa rầy sau.
Xem sản phẩm →

Cần tư vấn chương trình trừ rầy theo từng lứa, liên hệ đội ngũ Quốc Việt Agri. Bài liên quan: pyriproxyfen, một hoạt chất điều hòa sinh trưởng côn trùng khác, thiamethoxam trị rầy nâu, bọ trĩ.

Bảng Tra Nhanh

Mục Nội dung
Hoạt chất Buprofezin
Nhà phát triển Nihon Nohyaku (Nhật Bản); thương mại hóa tại Nhật năm 1984
Nhóm IRAC 16: ức chế tổng hợp chitin loại 1
Đích tác động Enzyme chitin synthase 1 (CHS1)
Đối tượng Côn trùng chích hút ở giai đoạn non: rầy nâu, rầy lưng trắng, rệp sáp, bọ phấn
Tác động Chủ yếu tiếp xúc; chậm (vài ngày) nhưng kéo dài
Tác động lên trưởng thành Không diệt nhanh; giảm đẻ trứng và trứng nở
Thiên địch Ít ảnh hưởng bọ xít mù xanh; làm chậm lột xác nhện sói
Kháng thuốc tại Việt Nam Thấp đến trung bình (cao nhất khoảng 24 lần, khảo sát 2015–2017)
Sản phẩm tại Quốc Việt Agri QVA BA ĐĂNG 500WP (acetamiprid + buprofezin)

Kết Luận

Trên những ô ruộng ở Kyushu năm 1979, buprofezin không diệt rầy ngay mà vẫn làm sạch ruộng, và phải hơn 30 năm sau khoa học mới xác định được vì sao: hoạt chất chặn enzyme tạo chitin, nên rầy non chết khi lột xác và lứa rầy sau không nở lên được. Hiểu như vậy, cách dùng trở nên rõ ràng: phun khi ruộng có nhiều rầy non, phun tới gốc, đánh giá sau vài ngày, và luân phiên ở lứa sau. Việt Nam vẫn còn giữ được hoạt chất này ở mức kháng thấp; dùng đúng cách, bà con sẽ giữ được hiệu lực đó lâu dài.

Zalo: 096 994 2349

Nguồn Tham Khảo

  • Asai T., Fukada M., Maekawa S. et al. (1983). Studies on the Mode of Action of Buprofezin I. Nymphcidal and Ovicidal Activities on the Brown Rice Planthopper, Nilaparvata lugens STAL (Homoptera : Delphacidae). Applied Entomology and Zoology 18(4):550-552. doi:10.1303/aez.18.550
  • Asai T., Kajihara O., Fukada M. et al. (1985). Studies on the Mode of Action of Buprofezin II. Effects on Reproduction of the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens STAL (Homoptera : Delphacidae). Applied Entomology and Zoology 20(2):111-117. doi:10.1303/aez.20.111
  • Nagata T. (1986). Timing of Buprofezin Application for Control of the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens STAL(Homoptera : Delphacidae). Applied Entomology and Zoology 21(3):357-362. doi:10.1303/aez.21.357
  • Uchida M., Asai T., Sugimoto T. (1985). Inhibition of cuticle deposition and chitin biosynthesis by a new insect growth regulator, buprofezin, in Nilaparvata lugens Stal. Agricultural and Biological Chemistry 49(4):1233-1234. doi:10.1271/bbb1961.49.1233
  • Uchida M., Izawa Y., Sugimoto T. (1986). Antagonistic effect of 20-hydroxyecdysone to an insect growth regulator, buprofezin, in Nilaparvata lugens Stal. Agricultural and Biological Chemistry 50(7):1913-1915. doi:10.1271/bbb1961.50.1913
  • Kuriyama K., Yamaguchi R. (2000). Changes in Susceptibility to Buprofezin Following Ecdysis in Nymphs of Brown Planthopper, Nilaparvata lugens. Japanese Journal of Applied Entomology and Zoology 44(2):134-137. doi:10.1303/jjaez.2000.134
  • Pan W.L., Chiu S.F. (1989). Mode of action of buprofezin against Nilaparvata lugens nymphs and its application in rice fields. Journal of South China Agricultural University 1989(4):13-18.
  • Douris V., Steinbach D., Panteleri R. et al. (2016). Resistance mutation conserved between insects and mites unravels the benzoylurea insecticide mode of action on chitin biosynthesis. Proceedings of the National Academy of Sciences 113(51):14692-14697. doi:10.1073/pnas.1618258113
  • Long G.Y., Gong M.F., Yang H. et al. (2023). Buprofezin affects the molting process by regulating nuclear receptors SfHR3 and SfHR4 in Sogatella furcifera. Pesticide Biochemistry and Physiology 197:105695. doi:10.1016/j.pestbp.2023.105695
  • Zeng B., Chen F.R., Liu Y.T. et al. (2023). A chitin synthase mutation confers widespread resistance to buprofezin, a chitin synthesis inhibitor, in the brown planthopper, Nilaparvata lugens. Journal of Pest Science 96(2):819-832. doi:10.1007/s10340-022-01538-9
  • Zhang F., Zhang Y.C., Yu Z.T. et al. (2024). The G932C mutation of chitin synthase 1 gene (CHS1) mediates buprofezin resistance as confirmed by CRISPR/Cas9-mediated knock-in approach in the brown planthopper, Nilaparvata lugens. Pesticide Biochemistry and Physiology 202:105953. doi:10.1016/j.pestbp.2024.105953
  • Choi et al. (1996). Effects of sublethal doses of insecticides on the brown planthopper, Nilaparvata lugens Stål and mirid predator, Cyrtorhinus lividipennis Reuter. Korean Journal of Applied Entomology 35(1):52-57.
  • Sun D.W., Shen J.L. (2008). Safety evaluation of insecticides on Cyrtorhinus lividipennis (Reuter), a predator of Nilaparvata lugens (Stål). Scientia Agricultura Sinica 41(7):1995-2002. doi:10.3864/j.issn.0578-1752.2008.07.016
  • Pan H., Song B., Liao J. et al. (2024). Buprofezin delayed the molting of Pardosa pseudoannulata, a predatory enemy for insect pests, by suppressing chitin synthase 1 expression. Pesticide Biochemistry and Physiology 199:105798. doi:10.1016/j.pestbp.2024.105798
  • Chelliah S., Heinrichs E.A. (1980). Factors Affecting Insecticide-Induced Resurgence of the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens on Rice. Environmental Entomology 9(6):773-777. doi:10.1093/ee/9.6.773
  • Reissig W.H., Heinrichs E.A., Valencia S.L. (1982). Insecticide-Induced Resurgence of the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens, on Rice Varieties with Different Levels of Resistance. Environmental Entomology 11(1):165-168. doi:10.1093/ee/11.1.165
  • Wang Y., Gao C., Xu Z. et al. (2008). Buprofezin susceptibility survey, resistance selection and preliminary determination of the resistance mechanism in Nilaparvata lugens (Homoptera: Delphacidae). Pest Management Science 64(10):1050-1056. doi:10.1002/ps.1606
  • Wu S.F., Zeng B., Zheng C. et al. (2018). The evolution of insecticide resistance in the brown planthopper (Nilaparvata lugens Stål) of China in the period 2012–2016. Scientific Reports 8(1):4586. doi:10.1038/s41598-018-22906-5
  • Ye W.N., Li Y., Zhang Y.C. et al. (2024). Area-wide survey and monitoring of insecticide resistance in the brown planthopper, Nilaparvata lugens (Stål), from 2020 to 2023 in China. Pesticide Biochemistry and Physiology 205:106173. doi:10.1016/j.pestbp.2024.106173
  • Khoa D.B., Thang B.X., Liem N.V. et al. (2018). Variation in susceptibility of eight insecticides in the brown planthopper Nilaparvata lugens in three regions of Vietnam 2015-2017. PLOS ONE 13(10):e0204962. doi:10.1371/journal.pone.0204962
  • Zeng B., Zhang F., Liu Y.T. et al. (2023). Symbiotic bacteria confer insecticide resistance by metabolizing buprofezin in the brown planthopper, Nilaparvata lugens (Stål). PLOS Pathogens 19(12):e1011828. doi:10.1371/journal.ppat.1011828
  • Wu S., He M., Xia F. et al. (2022). The Cross-Resistance Pattern and the Metabolic Resistance Mechanism of Acetamiprid in the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens (Stål). International Journal of Molecular Sciences 23(16):9429. doi:10.3390/ijms23169429
  • Zeng B., Liu Y., Feng Z. et al. (2023). The overexpression of cytochrome P450 genes confers buprofezin resistance in the brown planthopper, Nilaparvata lugens (Stål). Pest Management Science 79(1):125-133. doi:10.1002/ps.7181
  • Otuka A. (2013). Migration of rice planthoppers and their vectored re-emerging and novel rice viruses in East Asia. Frontiers in Microbiology 4. doi:10.3389/fmicb.2013.00309
  • IRAC. Mode of Action Classification (nhóm 4A, nhóm 16).
  • Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 75/2025/TT-BNNMT; Thông tư 28/2026/TT-BNNMT).

Câu Hỏi Thường Gặp Về Bài Viết

Buprofezin là gì, thuộc nhóm nào?

Buprofezin là hoạt chất điều hòa sinh trưởng côn trùng do Nihon Nohyaku (Nhật Bản) phát triển, thương mại hóa từ năm 1984. IRAC xếp vào nhóm 16, ức chế tổng hợp chitin. Hoạt chất làm rầy non không tạo được vỏ mới nên chết khi lột xác.

Vì sao phun buprofezin xong rầy chưa chết ngay?

Buprofezin không diệt nhanh rầy trưởng thành. Hoạt chất tác động lên rầy non khi lột xác và làm trứng khó nở, nên hiệu quả thể hiện sau vài ngày, khi lứa rầy non giảm. Thí nghiệm của Nihon Nohyaku năm 1985 cho thấy số rầy non lứa sau chỉ còn 0–6% so với đối chứng.

Buprofezin có lưu dẫn không?

Buprofezin tác động chủ yếu qua tiếp xúc. Rầy non nấp trong bẹ lá không bị ảnh hưởng nếu chỉ phun lên lá, vì vậy cần hạ béc phun tới gốc lúa.

QVA BA ĐĂNG 500WP trị gì?

QVA BA ĐĂNG 500WP chứa acetamiprid 150 g/kg + buprofezin 350 g/kg, đăng ký cho rầy nâu, bọ trĩ trên lúa và rệp sáp giả trên cà phê. Dùng lượng thuốc và lượng nước in trên bao bì, ngừng phun trước thu hoạch 7 ngày.

Sau BA ĐĂNG nên luân phiên thuốc gì?

Lứa rầy sau nên đổi sang nhóm IRAC khác, ví dụ pymetrozine (nhóm 9B) hoặc triflumezopyrim (nhóm 4E, Pexena). Tránh dinotefuran, imidacloprid, thiamethoxam vì cùng nhóm 4A với acetamiprid.

Sản Phẩm Được Đề Cập Trong Bài Viết

Quay lại blog