Phoxim Là Gì? Vì Sao Hoạt Chất Này Nhanh Tan Dưới Nắng Và Cách Dùng Đúng
Phoxim là hoạt chất trừ sâu nhóm lân hữu cơ do Bayer (Đức) phát triển, thuộc nhóm IRAC 1B: ức chế men acetylcholinesterase, làm hệ thần kinh của sâu rối loạn. Thuốc tác động qua tiếp xúc và vị độc, không lưu dẫn, và phân hủy nhanh dưới ánh nắng và trong đất, nên ít tồn lưu nhưng cần phun đúng lúc.
Phoxim được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 75/2025/TT-BNNMT, sửa đổi bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT). Tại Quốc Việt Agri, phoxim có trong THẦN CÔNG Boxing 9999 (tên đăng ký Boxing 99.99EW), đăng ký trừ sâu đục thân, sâu cuốn lá trên lúa: phun khi sâu tuổi 1–2, lứa sau đổi sang nhóm IRAC khác 1 và 3A.
Phoxim Ra Đời Như Thế Nào
Giữa thập niên 1960, các nhà hóa học của Bayer (Đức) tổng hợp một phân tử lân hữu cơ mới, mang mã nội bộ Bay 5621 và Bay 77488. Đơn sáng chế nộp tại Hà Lan năm 1966, và năm 1971 bằng sáng chế Hoa Kỳ US 3591662 được cấp cho Bayer. Hoạt chất này về sau có tên chung là phoxim, bán dưới các tên thương mại Baythion, Volaton và Sebacil.
Năm 1970, phoxim được đưa vào thử nghiệm ở nhiều nơi. Tại Bộ Nông nghiệp Canada, hai thí nghiệm công bố trên tạp chí Journal of Economic Entomology so sánh nó với các thuốc trừ sâu đất đang dùng thời đó, trên sâu xám (Euxoa messoria), dế và ruồi. Kết quả có hai mặt rõ ràng:
- Mạnh: phoxim là thuốc tiếp xúc phổ rộng, hoạt tính trong đất rất tốt, hiệu quả trên sâu xám tuổi 3–5 và được đánh giá có thể thay các thuốc clo hữu cơ như DDT (đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT).
- Ngắn: hiệu lực của phoxim mất đi rất nhanh, cả trong đất lẫn trên lá. Các tác giả kết luận: muốn hiệu quả thì lịch phun phải trùng đúng lúc sâu xám mới nở.
Một năm sau, năm 1971, một thí nghiệm của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) cho kết quả gần như ngược lại. Trộn phoxim vào lúa mì, ngô hạt và cao lương trong kho ở mức 5 ppm, hạt được giữ sạch mọt gạo (Sitophilus oryzae) suốt 12 tháng bảo quản, tốt hơn malathion ở mức 10 ppm.
Hai kết quả cùng đúng. Điều khác nhau giữa ruộng và kho hạt chính là chìa khóa để dùng phoxim cho tốt, và nó nằm ở hai thứ mà ruộng lúa Việt Nam lúc nào cũng có nhiều: nắng và nước.
Cách Phoxim Làm Sâu Tê Liệt
Ở hệ thần kinh côn trùng, tín hiệu truyền từ dây thần kinh này sang dây thần kinh khác bằng một chất dẫn truyền tên acetylcholine. Truyền xong, men acetylcholinesterase phải dọn sạch chất này ngay, giống như nhấc tay khỏi nút chuông để chuông ngừng reo.
Phoxim khóa men đó lại. Acetylcholine ứ lại, "chuông" thần kinh reo không ngừng: sâu co giật, ngừng ăn rồi chết. Bảng phân loại IRAC phiên bản 11.5 (tháng 2/2026) xếp phoxim vào nhóm 1B (lân hữu cơ), cùng nhóm với profenofos, quinalphos, dimethoate.
Sâu chạm thuốc hoặc ăn lá có thuốc → Men acetylcholinesterase bị khóa → Acetylcholine ứ đọng → Thần kinh bị kích thích liên tục → Sâu tê liệt, ngừng ăn
Cơ sở dữ liệu PPDB (Đại học Hertfordshire, Anh) mô tả phoxim là thuốc không lưu dẫn, tác động tiếp xúc và vị độc, thời gian hiệu lực ngắn. Nghĩa là thuốc chỉ tác động lên sâu chạm phải giọt thuốc hoặc ăn phần lá có thuốc, không đi theo nhựa cây tới chỗ khác.
Vì Sao Phoxim Nhanh Hết Hiệu Lực Ngoài Đồng?
Năm 2011, các nhà khoa học của Đại học Aegean (Hy Lạp) công bố trên tạp chí Environmental Science and Pollution Research một thí nghiệm so sánh phoxim với hai thuốc trừ cỏ trong nước ở ba độ pH. Hai thuốc trừ cỏ gần như không đổi; phoxim là chất kém bền nhất trong cả ba:
- Trong bóng tối: phoxim tự phân hủy trong nước, thời gian bán phân hủy từ 204 giờ (nước chua, pH 4) xuống 10 giờ (nước kiềm, pH 9).
- Dưới ánh sáng: phân hủy nhanh hơn, thời gian bán phân hủy 37 giờ ở pH 4, 22 giờ ở pH 7 và 9 giờ ở pH 9.
Trên cây và trong đất cũng vậy. PPDB ghi thời gian bán phân hủy điển hình của phoxim trong đất là 6 ngày, và trên cây trồng khoảng 1,5–2,1 ngày (số liệu từ ba loại cây). Năm 2016, một thí nghiệm của Đại học Nông nghiệp Sơn Đông cùng Viện Hàn lâm Khoa học Nông Lâm nghiệp Bắc Kinh (Trung Quốc), công bố trên Crop Protection, đo trên ruộng hẹ: thời gian bán phân hủy trong đất của phoxim là 6,7 ngày, của thiamethoxam là 27,5 ngày.
Đến đây nghịch lý ở phần đầu đã có lời giải. Trong kho, hạt khô và gần như không có ánh nắng, nên phoxim tồn tại lâu. Ngoài ruộng, nắng và nước làm nó phân hủy trong vài ngày.
- Hiểu sai: thuốc trừ sâu tốt phải "bám lâu" trên cây, phun một lần là giữ ruộng được nhiều ngày.
- Thực tế: phoxim tác động mạnh khi sâu chạm thuốc, nhưng chỉ trong thời gian ngắn rồi phân hủy.
- Vì vậy: hiệu quả phụ thuộc vào thời điểm phun hơn là liều. Phun lúc sâu non mới nở, chiều mát, pha xong dùng ngay. Mặt tốt đi kèm: thuốc ít tồn lưu trong đất và trên nông sản.
Với ruộng lúa, điều này khớp với hướng dẫn trên nhãn THẦN CÔNG Boxing 9999: phun khi sâu tuổi 1–2, đúng như kết luận của thí nghiệm Canada năm 1970 về sâu xám.
Phoxim Trong THẦN CÔNG Boxing 9999 Làm Nhiệm Vụ Gì?
Ở Việt Nam, phoxim ít khi đứng một mình. Trong THẦN CÔNG Boxing 9999 (tên đăng ký Boxing 99.99EW, dạng nhũ tương trong nước EW), 99,99 g/l hoạt chất gồm ba phần:
- Lambda-cyhalothrin 50 g/l (IRAC 3A, cúc tổng hợp): tác động lên kênh natri ở dây thần kinh, làm sâu bị hạ gục nhanh.
- Profenofos 30 g/l (IRAC 1B, lân hữu cơ): cùng cơ chế với phoxim. Xem bài profenofos.
- Phoxim 19,99 g/l (IRAC 1B): phần nhỏ nhất trong công thức.
Ba hoạt chất nhưng chỉ hai nhóm cơ chế, 3A và 1B, vì profenofos và phoxim cùng nhóm 1B. Điều này quan trọng khi xếp lịch luân phiên: lứa sâu kế tiếp nên dùng thuốc không thuộc nhóm 1 và không thuộc nhóm 3A.
Cách Dùng Phoxim Để Thuốc Giữ Hiệu Quả Lâu
Nhóm lân hữu cơ đã được dùng hơn nửa thế kỷ, nên ở nơi nào phoxim bị dùng lặp lại nhiều, sâu cũng dần quen. Các nghiên cứu ở Trung Quốc cho thấy điều đó diễn ra thế nào:
- Ruồi hại hẹ (Sơn Đông, 2017): Viện Hàn lâm Khoa học Nông nghiệp Sơn Đông và Đại học Nông nghiệp Sơn Đông công bố trên Journal of Agricultural and Food Chemistry rằng ruồi hại hẹ (Bradysia odoriphaga) ở Trung Quốc đã kháng rộng rãi thuốc lân hữu cơ. Quần thể ngoài đồng kháng phoxim nhưng vẫn mẫn cảm với chlorfenapyr, một thuốc khác cơ chế.
- Sâu tơ (Bắc Kinh, 2021): Đại học Nông nghiệp Trung Quốc công bố trên Pest Management Science một gen men giải độc carboxylesterase liên quan tới tính kháng phoxim của sâu tơ; ruồi giấm được cấy gen này chịu phoxim cao gấp 3,98 lần.
- Giòi hành (Sơn Đông, 2023): Đại học Công nghệ Tề Lỗ và Viện Hàn lâm Khoa học Sơn Đông công bố trên Ecotoxicology and Environmental Safety: ở dòng giòi hành kháng phoxim, cả men giải độc của giòi lẫn vi khuẩn trong ruột của nó cùng phân giải thuốc. Gộp cả hai giải thích được 85,2% mức chênh lệch tỷ lệ chết, mỗi bên riêng lẻ chưa tới 10%.
Hai nghiên cứu ở Bắc Kinh và Sơn Đông (2023) chỉ ra sâu kháng phoxim nhờ giải độc thuốc nhanh hơn; nghiên cứu ở Sơn Đông năm 2017 cho thấy thuốc khác cơ chế vẫn hiệu quả trên quần thể đã kháng phoxim. Vì vậy cách giữ phoxim hiệu quả lâu là mỗi lứa sâu chỉ dùng một nhóm cơ chế, lứa sau đổi nhóm, và không luân phiên giữa các thuốc cùng nhóm 1 (lân hữu cơ 1B, carbamate 1A). Xem thêm cách chọn thuốc theo nhóm IRAC.
Phoxim Và Carbofuran Khác Nhau Thế Nào?
Nhiều người tìm phoxim khi đang tìm một loại thuốc rải gốc trừ sâu đất quen thuộc trước đây. Hai hoạt chất này khác nhau:
- Carbofuran: nhóm carbamate (IRAC 1A), lưu dẫn, đã bị cấm sử dụng tại Việt Nam theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT. Xem bài carbosulfan và carbofuran.
- Phoxim: nhóm lân hữu cơ (IRAC 1B), không lưu dẫn, phân hủy nhanh, được phép sử dụng tại Việt Nam cho đúng cây trồng và đối tượng đã đăng ký.
Cả hai cùng nhóm lớn IRAC 1, nên không dùng thuốc này để luân phiên cho thuốc kia.
Tại Quốc Việt Agri, gói FURADAN 900g chứa phoxim 8% (80 g/kg), không chứa carbofuran. Đây là sản phẩm gia dụng, y tế mang số đăng ký VNDP-HC-353-06-20, không phải thuốc bảo vệ thực vật.
Đăng Ký Sử Dụng Phoxim Tại Việt Nam
Theo dữ liệu quốc tế (PPDB), phoxim từng được dùng trên khoai tây, bông, ngô, củ cải đường, cho sâu non bộ cánh vảy, châu chấu và côn trùng hại kho. Tại Việt Nam, mỗi sản phẩm chỉ dùng cho đúng cây trồng và đối tượng đã đăng ký. Trong Danh mục hiện hành:
- Phoxim đơn chất: dạng hạt (GR) đăng ký cho sâu xám trên ngô; dạng nhũ dầu (EC) đăng ký cho rệp sáp bột trên cà phê (bổ sung theo Thông tư 28/2026).
- Phoxim phối trộn với các thuốc cúc tổng hợp, profenofos, abamectin hoặc chlorfenapyr: đăng ký trên lúa (sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ trĩ), ngô (sâu keo mùa thu, sâu đục thân, rệp muội), lạc (sâu khoang, sâu xanh), đậu tương, khoai lang, sắn (bọ phấn), mía (rệp sáp) và hồ tiêu (rệp sáp).
| Sản phẩm tại Quốc Việt Agri | Hoạt chất | Đối tượng / cây trồng đăng ký | Liều (nhãn) | Cách ly |
|---|---|---|---|---|
| THẦN CÔNG Boxing 9999 (tên đăng ký Boxing 99.99EW) | Lambda-cyhalothrin 50 g/l + Profenofos 30 g/l + Phoxim 19,99 g/l | Sâu đục thân, sâu cuốn lá / lúa | 0,3 lít/ha; 400–500 lít nước/ha | 14 ngày |
Đối tượng đăng ký theo Thông tư 75/2025/TT-BNNMT (Phụ lục I, Boxing 99.99EW), sửa đổi bởi Thông tư 28/2026/TT-BNNMT; liều, lượng nước, thời điểm phun và thời gian cách ly theo nhãn chai. Luôn đối chiếu nhãn chai đang cầm trước khi pha.
THẦN CÔNG Boxing 9999 chỉ đăng ký cho lúa. Với cây ăn trái, sầu riêng, cà phê, rau màu hay các cây trồng khác ngoài bảng trên, kể cả sâu xám, sâu đất, vui lòng liên hệ đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo 096 994 2349 để được chia sẻ thêm. Xem thêm bài sâu đất, sâu xám hại cây con.
Ưu Điểm Và Nhược Điểm Của Phoxim
- Tác động nhanh qua tiếp xúc và vị độc trên sâu miệng nhai; thí nghiệm của Bộ Nông nghiệp Canada (1970) ghi nhận hiệu quả trên sâu xám tuổi 3–5.
- Ít tồn lưu: thời gian bán phân hủy trong đất khoảng 6 ngày (PPDB), trên cây khoảng 1,5–2,1 ngày.
- Ít rửa trôi xuống nước ngầm: phoxim bám chặt vào đất, PPDB xếp khả năng rửa trôi ở mức thấp.
- Phổ đăng ký rộng: dạng phối trộn có trên lúa, ngô, lạc, đậu tương, khoai lang, mía, sắn, hồ tiêu; dạng đơn chất trên ngô và cà phê.
- Hiệu lực ngắn, nhanh phân hủy dưới nắng. Cách khắc phục: phun lúc chiều mát, đúng giai đoạn sâu tuổi 1–2; pha xong phun ngay, không để thuốc pha qua đêm.
- Phân hủy nhanh trong nước kiềm. Cách khắc phục: dùng nước sạch, không pha chung với chất có tính kiềm; chỉ phối trộn khi nhãn sản phẩm cho phép.
- Không lưu dẫn. Cách khắc phục: phun đủ lượng nước 400–500 lít/ha để thuốc phủ tới nơi sâu ăn; sâu đã chui sâu vào thân thì khó trúng thuốc, nên phun sớm.
- Rất độc với giáp xác nước ngọt. PPDB ghi nồng độ gây hại 50% cho bọ chét nước (Daphnia magna) chỉ 0,00081 mg/l. Cách khắc phục: không phun cho ruộng lúa kết hợp nuôi tôm, cá; không để nước ruộng vừa phun chảy ra kênh, ao.
- Sâu có thể quen thuốc nhóm lân hữu cơ. Cách khắc phục: mỗi lứa sâu một nhóm cơ chế, lứa sau đổi sang nhóm khác 1 và 3A theo lịch luân phiên bên dưới.
Cách Sử Dụng Phoxim An Toàn Và Hiệu Quả
Phoxim mạnh khi sâu chạm thuốc, không lưu dẫn và phân hủy nhanh dưới nắng, nên cách dùng gần như tự suy ra:
Liều Tham Khảo Theo Diện Tích
Liều trên nhãn tính theo hecta, nên cách quy đổi an toàn nhất là theo diện tích mà bình phun thực tế phủ được.
| Diện tích | Lượng thuốc | Lượng nước | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 1 ha | 0,3 lít (300 ml) | 400–500 lít | Theo nhãn |
| 1.000 m² (1 sào Nam Bộ) | 30 ml | 40–50 lít | Quy đổi |
| 500 m² | 15 ml | 20–25 lít | Quy đổi |
Với máy bay phun thuốc (drone), chỉ dùng khi nhãn và quy trình kỹ thuật cho phép, giữ đúng tổng liều theo diện tích.
Dấu Hiệu Sâu Bắt Đầu Quen Thuốc
- Phun đúng liều, đúng sâu tuổi 1–2, đủ nước, nhưng 2–3 ngày sau sâu non vẫn ăn bình thường.
- Phải tăng liều hoặc phun dày hơn mới giữ được ruộng như vụ trước.
Gặp các dấu hiệu này, đừng tăng liều: chuyển sang nhóm IRAC khác theo lịch dưới đây, và có thể gửi ảnh qua Zalo để đội ngũ Quốc Việt Agri cùng xem lại thời điểm phun.
Lịch Luân Phiên Gợi Ý Khi Dùng Phoxim
IRAC khuyến cáo mỗi lứa sâu hại chỉ dùng một nhóm cơ chế, lứa sau đổi nhóm khác. Lịch dưới đây chỉ dùng sản phẩm có đăng ký cho sâu cuốn lá, sâu đục thân trên lúa.
Sâu Cuốn Lá, Sâu Đục Thân Trên Lúa
- Tổ chức Y tế Thế giới xếp phoxim nhóm II (độc trung bình) (PPDB). Mang găng tay, khẩu trang, kính, áo dài tay khi pha và phun; không ăn uống, hút thuốc khi đang phun; tắm, giặt đồ ngay sau khi phun.
- Dấu hiệu ngộ độc nhóm ức chế men cholinesterase: chảy nước bọt, vã mồ hôi, co đồng tử, buồn nôn, co giật. Đưa ngay tới cơ sở y tế và mang theo nhãn thuốc.
- Không phun sát ao, mương, ruộng nuôi tôm cá; không đổ thuốc thừa hay nước rửa bình xuống nguồn nước.
- Ong: PPDB chưa có số liệu độc tính với ong cho phoxim; vẫn không phun lên cây đang nở hoa khi ong kiếm ăn.
- Quyết định riêng của EU: PPDB ghi phoxim không được phê duyệt làm thuốc bảo vệ thực vật tại EU. Vườn, ruộng làm hàng xuất khẩu nên hỏi đơn vị thu mua về yêu cầu dư lượng.
Thú Vị: Phoxim Trong Chuồng Gà Đẻ
Phoxim không chỉ dùng ngoài đồng. Năm 2007, các nhà khoa học của Đại học Ludwig-Maximilian München (Đức) công bố trên tạp chí Veterinary Parasitology một thử nghiệm với ByeMite, sản phẩm thú y chứa phoxim của Bayer, để trị mạt đỏ gà (Dermanyssus gallinae) trong chuồng gà đẻ nuôi lồng. Phun chuồng hai lần cách nhau 7 ngày, hiệu quả trên mạt đạt 96,1% sau 3 ngày và trên 99% từ ngày thứ 7 tới hết 49 ngày theo dõi, trong khi chuồng đối chứng không phun có số mạt tăng 400%.
Chuồng gà kín và ít nắng, điều kiện phù hợp với một hoạt chất tác động tiếp xúc nhưng nhanh phân hủy dưới ánh sáng.
Thuốc Chứa Phoxim Tại Quốc Việt Agri
Bảng Tra Nhanh
| Đặc điểm | Phoxim |
|---|---|
| Nhóm IRAC | Nhóm 1B (lân hữu cơ) |
| Cơ chế | Ức chế men acetylcholinesterase |
| Cách tác động | Tiếp xúc và vị độc, không lưu dẫn |
| Bán phân hủy trong đất | Khoảng 6 ngày (PPDB); 6,7 ngày trên ruộng hẹ (Sơn Đông, 2016) |
| Bán phân hủy trong nước có ánh sáng | 37 giờ (pH 4), 22 giờ (pH 7), 9 giờ (pH 9) (Đại học Aegean, 2011) |
| Phân loại WHO | Nhóm II, độc trung bình (PPDB) |
| Không luân phiên với | Thuốc cùng nhóm 1: profenofos, quinalphos, dimethoate (1B); carbosulfan, fenobucarb (1A) |
Kết Luận
Phoxim ra đời ở Bayer giữa thập niên 1960 và mang một đặc điểm theo nó suốt hơn 50 năm: tác động mạnh khi sâu chạm thuốc, rồi phân hủy nhanh dưới nắng và trong nước. Được phép sử dụng tại Việt Nam, nó là một mắt xích hữu ích trong lịch trừ sâu cuốn lá, sâu đục thân trên lúa, miễn là dùng đúng cách.
Ba điều giữ phoxim hiệu quả: phun lúc sâu tuổi 1–2, phun chiều mát và pha xong dùng ngay, lứa sau đổi sang nhóm khác 1 và 3A. Điều mà thí nghiệm sâu xám ở Canada năm 1970 đã ghi lại vẫn đúng với ruộng lúa hôm nay: với phoxim, đúng thời điểm quan trọng hơn tăng liều.
Chưa chắc sâu trên ruộng đang ở tuổi mấy, hay chưa biết lứa sau nên đổi sang nhóm thuốc nào? Gửi ảnh lá cuốn, dảnh héo hoặc con sâu (chụp gần) cho đội ngũ Quốc Việt Agri qua Zalo, chúng tôi trả lời theo nhãn thuốc và cây trồng của ruộng nhà mình.
Zalo 096 994 2349Nguồn Tham Khảo
- University of Hertfordshire, Agriculture & Environment Research Unit. PPDB: Pesticide Properties DataBase — Phoxim (Ref: OMS 1170), cập nhật 19/05/2026. sitem.herts.ac.uk/aeru/ppdb
- Insecticide Resistance Action Committee (IRAC). Mode of Action Classification Scheme, Version 11.5, tháng 2/2026. irac-online.org
- Merck Index (qua DrugFuture Chemical Database): Phoxim — Bay 5621, Bay 77488; NL 6605907; Lorenz W. và cs., US 3591662 (1966, 1971, Bayer).
- Harris C.R. Laboratory Evaluation of Candidate Materials as Potential Soil Insecticides. III. Journal of Economic Entomology 1970;63(3):782–787. doi:10.1093/jee/63.3.782
- Harris C.R., Svec H.J. Toxicological Studies on Cutworms. VI. Laboratory Studies on the Toxicity of Several Experimental Insecticides to the Dark-Sided Cutworm as Soil Treatments and Stomach Poisons. Journal of Economic Entomology 1970;63(2):605–609. doi:10.1093/jee/63.2.605
- LaHue D.W., Dicke E.B. Phoxim as an Insect Protectant for Stored Grains. Journal of Economic Entomology 1971;64(6):1530–1533. doi:10.1093/jee/64.6.1530
- Gatidou G., Iatrou E. Investigation of photodegradation and hydrolysis of selected substituted urea and organophosphate pesticides in water. Environmental Science and Pollution Research 2011;18:949–957. doi:10.1007/s11356-011-0452-1
- Zhang P., He M.Y., Yan W.M. và cs. Comparative soil distribution and dissipation of phoxim and thiamethoxam and their efficacy in controlling Bradysia odoriphaga in Chinese chive ecosystems. Crop Protection 2016;90:1–8. doi:10.1016/j.cropro.2016.07.028
- Zhao Y., Wang Q., Wang Y. và cs. Chlorfenapyr, a Potent Alternative Insecticide of Phoxim To Control Bradysia odoriphaga (Diptera: Sciaridae). Journal of Agricultural and Food Chemistry 2017;65(29):5908–5915. doi:10.1021/acs.jafc.7b02098
- Li R., Zhu B., Shan J. và cs. Functional analysis of a carboxylesterase gene involved in beta-cypermethrin and phoxim resistance in Plutella xylostella (L.). Pest Management Science 2021;77(4):2097–2105. doi:10.1002/ps.6238
- Zhou F., Liang Q., Zhao X. và cs. Comparative metaproteomics reveal co-contribution of onion maggot and its gut microbiota to phoxim resistance. Ecotoxicology and Environmental Safety 2023;267:115649. doi:10.1016/j.ecoenv.2023.115649
- Meyer-Kühling B., Pfister K., Müller-Lindloff J., Heine J. Field efficacy of phoxim 50% (ByeMite) against the poultry red mite Dermanyssus gallinae in battery cages stocked with laying hens. Veterinary Parasitology 2007;147(3–4):289–296. doi:10.1016/j.vetpar.2007.04.012
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Thông tư 75/2025/TT-BNNMT ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép và cấm sử dụng tại Việt Nam (Phụ lục I, STT 772: Boxing 405EC, 99.99EW); Thông tư 28/2026/TT-BNNMT sửa đổi, bổ sung.