Cypermethrin Là Gì? 25EC, 10EC Hay Alpha 5EC Khác Nhau Thế Nào
Cypermethrin là hoạt chất trừ sâu nhóm cúc tổng hợp (pyrethroid), IRAC nhóm 3A, được tổng hợp lần đầu năm 1974 tại Viện Rothamsted (Anh) và đưa ra thị trường từ năm 1977. Hoạt chất giữ kênh natri trong dây thần kinh côn trùng ở trạng thái mở, làm sâu tê liệt rất nhanh. Thuốc tác động qua tiếp xúc và đường ăn, không lưu dẫn trong cây.
Con số trên tên thuốc không cho biết thuốc mạnh hay yếu: 25EC thường là 25%, 100EC thường là 100 g/L, và alpha-cypermethrin là một phần đã được tách riêng của cypermethrin. Ví dụ, MOTOX 5EC (5%) và FORTOX 50EC (50 g/kg) có cùng hàm lượng alpha-cypermethrin.
Cypermethrin Ra Đời Như Thế Nào
Câu chuyện bắt đầu từ một loài cúc. Từ thập niên 1920, các nhà khoa học đã biết bột hoa cúc trừ sâu (Tanacetum cinerariifolium) chứa những chất làm côn trùng tê liệt khi tiếp xúc. Nhưng có một vấn đề: các chất tự nhiên này, và cả những hợp chất tổng hợp đầu tiên mô phỏng chúng, phân hủy nhanh ngoài không khí và ánh nắng. Phun ra đồng, thuốc mất tác dụng trước khi kịp bảo vệ cây.
Năm 1948, nhà hóa học Michael Elliott về làm việc tại Viện Nghiên cứu Rothamsted ở Harpenden (Anh). Trong hơn hai thập kỷ, nhóm của viện, với các nhà hóa học Norman Janes, David Pulman và các chuyên gia độc chất côn trùng Paul Needham, Roman Sawicki, lần lượt thay những vị trí dễ bị ánh sáng phá vỡ trong phân tử cúc bằng các cấu trúc bền hơn. Năm 1973, họ công bố trên tạp chí Nature chất cúc tổng hợp đầu tiên bền với ánh sáng: permethrin. Một năm sau, cypermethrin ra đời.
Theo hồ sơ lịch sử của Rothamsted, đến thập niên 1980, thuốc cúc tổng hợp đã được dùng trên khoảng 33 triệu ha cây trồng. Nhưng phân tử cypermethrin còn một điểm ít người biết: thứ chứa trong chai thuốc không phải một chất, mà là tám dạng phân tử khác nhau, và không phải dạng nào cũng diệt được sâu.
Một Hoạt Chất, Tám Dạng Phân Tử
Phân tử cypermethrin có ba vị trí mà các nguyên tử có thể sắp xếp theo hai hướng, giống như đôi dép trái và phải: cùng vật liệu, cùng hình dáng, nhưng chỉ vừa một bên chân. Ba vị trí, mỗi vị trí hai hướng, tạo ra tám dạng đồng phân. Cypermethrin kỹ thuật là hỗn hợp của cả tám dạng.
Với côn trùng, hướng sắp xếp quyết định tất cả. Theo hồ sơ đánh giá của Trung tâm Độc chất học Sinh thái Eawag-EPFL (Thụy Sĩ) năm 2016, cấu hình "R" tại một vị trí trên vòng ba cạnh của phân tử là điều kiện bắt buộc để thuốc gây độc thần kinh cho côn trùng; dạng ngược lại ("S") thì không. Nói cách khác, khoảng một nửa số dạng phân tử trong hỗn hợp cypermethrin gần như không đóng góp vào việc diệt sâu.
Alpha-cypermethrin ra đời từ việc tách riêng những dạng có hoạt tính. Theo đánh giá năm 2008 của Hội nghị chung FAO/WHO về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (JMPR), alpha-cypermethrin chỉ gồm một cặp trong tám dạng, mỗi dạng 50%. Trong mẫu cypermethrin kỹ thuật được JMPR mô tả, chính cặp này chỉ chiếm khoảng 22% (11% + 11%). Các hỗn hợp khác như beta-cypermethrin và zeta-cypermethrin cũng là cypermethrin với tỷ lệ các dạng được điều chỉnh.
Alpha-cypermethrin không phải một loại thuốc khác hẳn cypermethrin, và cũng không thể so hai sản phẩm chỉ bằng con số phần trăm trên nhãn: 5% alpha-cypermethrin và 5% cypermethrin chứa những hỗn hợp phân tử khác nhau. Liều dùng trên nhãn của từng sản phẩm đã được tính cho đúng hỗn hợp trong chai đó, nên cách an toàn nhất là dùng đúng liều theo nhãn của sản phẩm mình mua.
Con Số Trên Tên Thuốc Không Phải Là Độ Mạnh
Trên thị trường Việt Nam, con số sau tên thương mại là hàm lượng hoạt chất, nhưng mỗi nhà sản xuất có thể ghi theo một đơn vị khác nhau: phần trăm (%), gam trên lít (g/L) hoặc gam trên kilogam (g/kg). Chữ phía sau là dạng thuốc: EC là nhũ dầu, SC là huyền phù, EW là nhũ tương dầu trong nước. Hai ví dụ có thể đối chiếu trên nhãn:
| Sản phẩm | Ghi trên nhãn | Quy đổi |
|---|---|---|
| MOTOX 5EC | Alpha-cypermethrin 5% w/w | 50 g alpha-cypermethrin trong 1 kg thuốc |
| FORTOX 50EC | Alpha-cypermethrin 50 g/kg | 50 g alpha-cypermethrin trong 1 kg thuốc |
| CYRUX 25EC | Cypermethrin 25% w/w | 250 g cypermethrin trong 1 kg thuốc |
| CYPERKILL 25EC | Cypermethrin 250 g/L | 250 g cypermethrin trong 1 lít thuốc |
Con số "5" và "50" trông như chênh nhau mười lần, nhưng MOTOX 5EC và FORTOX 50EC có cùng hàm lượng. Vì vậy so sánh hai chai thuốc cần đọc dòng thành phần trên nhãn, không đọc con số trên tên. Còn câu hỏi thuốc mạnh hay yếu phụ thuộc vào liều pha cho từng loại sâu, ghi trên nhãn đăng ký, và vào cách thuốc tác động lên con sâu.
Cách Cypermethrin Làm Sâu Tê Liệt
Mỗi tín hiệu thần kinh của côn trùng là một lần mở và đóng rất nhanh của các kênh natri trên màng tế bào thần kinh, giống như cửa cống được mở cho nước qua rồi đóng lại ngay. Theo tổng quan năm 2012 của Đại học Cornell (Hoa Kỳ) trên tạp chí Archives of Toxicology, tác dụng trừ sâu của thuốc cúc tổng hợp dựa vào khả năng gắn vào và làm rối loạn các kênh natri này.
Khi cypermethrin gắn vào, kênh natri không đóng lại kịp. Dây thần kinh phát tín hiệu liên tục, sâu co giật, mất phối hợp rồi tê liệt. Đây là hiện tượng "hạ gục" mà bà con thấy sau khi phun thuốc cúc: sâu rơi khỏi lá chỉ sau một thời gian ngắn. IRAC xếp nhóm này là 3A, chất điều biến kênh natri.
Sâu tiếp xúc hoặc ăn phải thuốc → Kênh natri bị giữ ở trạng thái mở → Thần kinh phát tín hiệu liên tục → Tê liệt, hạ gục
Từ cơ chế này suy ra một điểm quan trọng khi dùng. Theo cơ sở dữ liệu thuốc bảo vệ thực vật PPDB của Đại học Hertfordshire (Anh), cypermethrin không lưu dẫn, chỉ tác động qua tiếp xúc và đường ăn. Thuốc phải chạm được vào con sâu hoặc phần lá sâu đang ăn. Sâu cuốn lá đã cuộn kín tổ, sâu đục thân đã chui vào trong thân thì thuốc tiếp xúc khó tới. Vì vậy thời điểm phun hiệu quả là khi sâu non mới nở, chưa kịp cuốn lá hay đục vào thân.
Nhiều loại thuốc cúc tổng hợp độc với sâu hơn khi trời mát. Năm 1990, Đại học Bang Louisiana (Hoa Kỳ) công bố trên Journal of Economic Entomology thí nghiệm trên sâu đo bắp cải ở 15,6 °C, 26,7 °C và 37,8 °C: permethrin và lambda-cyhalothrin độc hơn ở nhiệt độ thấp, trong khi esfenvalerate độc như nhau ở các mức nhiệt. Ngược lại, sâu có triệu chứng ngộ độc nhanh hơn khi trời nóng.
Nghiên cứu này không thử riêng cypermethrin, nên không thể khẳng định cypermethrin cũng như vậy. Tuy nhiên, phun vào sáng sớm hoặc chiều mát vẫn là lựa chọn hợp lý vì nhiều lý do khác: ít bay hơi, ít ong đang kiếm ăn, sâu non thường hoạt động trên lá.
Vì Sao Phun Thuốc Cúc Trên Lúa Có Thể Làm Rầy Nâu Bùng Phát
Thuốc cúc tổng hợp diệt sâu nhanh, nhưng chính đặc điểm phổ rộng đó tạo ra một nghịch lý trên ruộng lúa. Từ năm 1978 đến 1980, Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI, Philippines) thử nghiệm decamethrin, tên cũ của deltamethrin, một hoạt chất cùng nhóm cúc tổng hợp với cypermethrin. Kết quả công bố năm 1982 trên tạp chí Environmental Entomology: trên giống lúa nhiễm rầy IR29, mật độ rầy nâu ở ruộng phun cao hơn ruộng không phun tới khoảng 74 lần; trên giống kháng vừa IR40 khoảng 50 lần, trên giống kháng IR42 khoảng 5 lần.
IRRI tìm ra nhiều nguyên nhân cùng lúc:
- Mất thiên địch: ở liều cao, decamethrin làm giảm mạnh bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis), bọ gạo nước (Microvelia atrolineata) và nhện ăn thịt, những loài ăn trứng và rầy non.
- Rầy sinh sản nhiều hơn: trong thí nghiệm năm 1980, rầy tiếp xúc thuốc rút ngắn thời gian ấu trùng, sống lâu hơn và đẻ trứng trong thời gian dài hơn.
- Cây hại nặng hơn: lúa phun các thuốc gây tái bùng phát bị rầy làm cháy sớm hơn lúa không phun.
Với chính cypermethrin, bằng chứng mới hơn cho thấy điều quan trọng là liều lượng và số lần phun. Năm 2022, IRRI cùng Đại học Edinburgh (Anh) và các viện nghiên cứu của Chile, Pháp công bố trên tạp chí Insects thí nghiệm bảy loại thuốc, trong đó có cypermethrin và deltamethrin. Một lần phun cypermethrin lúc 20 ngày sau gieo có giảm được rầy nâu trên giống lúa kháng IR62. Nhưng phun nhiều lần thì không loại thuốc nào cho thêm lợi ích; deltamethrin phun ba lần còn làm giảm tác dụng của giống kháng, và phun muộn làm giảm năng suất ở ruộng không có rầy.
Việt Nam đã có kinh nghiệm thực tế về điều này. Theo tạp chí Rice Today của IRRI, trong một thí nghiệm năm 2001, ruộng không phun thuốc trừ sâu trong 40 ngày đầu sau gieo cấy cho năng suất bằng hoặc cao hơn ruộng phun thường xuyên, với thu nhập ròng cao hơn 8–10%. Cách làm "không phun 40 ngày đầu" cùng chương trình "3 giảm 3 tăng" sau đó được Trung tâm Bảo vệ thực vật phía Nam và IRRI phổ biến rộng rãi ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong Danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam, các sản phẩm cypermethrin, alpha-cypermethrin, beta-cypermethrin đơn chất được đăng ký trên lúa cho sâu cuốn lá, sâu đục thân, bọ trĩ, bọ xít, rầy xanh; không sản phẩm đơn chất nào đăng ký cho rầy nâu. Phun thuốc cúc để "ngừa" khi ruộng chưa đến ngưỡng, nhất là trong 40 ngày đầu, có nguy cơ làm mất thiên địch và tạo điều kiện cho rầy nâu bùng lên ở lứa sau. Khi rầy nâu vượt ngưỡng, chọn thuốc chuyên trị rầy, xem ngưỡng phòng trừ rầy nâu và buprofezin trị rầy.
Sâu Kháng Thuốc Cúc Tổng Hợp Như Thế Nào
Vì thuốc cúc gắn vào kênh natri, chỉ cần một thay đổi nhỏ trên kênh này là thuốc gắn kém đi. Theo tổng quan năm 2013 của Đại học Bang Michigan (Hoa Kỳ) trên tạp chí Pesticide Biochemistry and Physiology, việc dùng thuốc cúc tổng hợp với cường độ cao đã dẫn tới tình trạng kháng ở nhiều nơi trên thế giới, và các nhà khoa học đã xác định được một số lượng lớn đột biến trên kênh natri liên quan đến kháng thuốc ở côn trùng hại cây trồng và côn trùng truyền bệnh. Dạng kháng này thường được gọi là kháng hạ gục (kdr, knockdown resistance).
Hệ quả thực tế: khi sâu đã kháng một thuốc cúc, các thuốc cúc khác cùng nhóm 3A như permethrin, deltamethrin, lambda-cyhalothrin, alpha-cypermethrin hay beta-cypermethrin thường cũng giảm hiệu lực, vì chúng tác động lên cùng một đích. Đổi từ cypermethrin sang alpha-cypermethrin không phải là luân phiên. Luân phiên đúng là đổi sang một nhóm IRAC khác, ví dụ emamectin benzoate (nhóm 6, xem Ema sinh học trị sâu gì) hoặc isocycloseram (nhóm 30, xem Incipio 200SC). Xem thêm cách chọn thuốc trừ sâu theo nhóm IRAC và sâu cuốn lá kháng thuốc.
Thuốc Phối Sẵn: Cypermethrin Cùng Dimethoate Hoặc Quinalphos
Nhiều sản phẩm phối cypermethrin với một hoạt chất nhóm lân hữu cơ (IRAC 1B). Theo phân loại của IRAC, hai nhóm tác động lên hai đích khác nhau trong hệ thần kinh côn trùng: nhóm 3A giữ kênh natri mở, còn nhóm 1B ức chế enzyme acetylcholinesterase. Một số sản phẩm có đăng ký tại Việt Nam:
- NUGOR SUPER 450EC (cypermethrin 50 g/L + dimethoate 400 g/L): sâu cuốn lá, sâu đục thân, rầy nâu/lúa; sâu xanh da láng/đậu xanh; sâu xanh/đậu tương; bọ xít muỗi, sâu đục cành/điều; rệp sáp giả, mọt đục cành/cà phê.
- NITOX 30EC (cypermethrin 3% + dimethoate 27%): sâu cuốn lá, sâu đục bẹ/lúa; rệp/cà phê; sâu ăn lá/đậu tương, điều.
- KINAGOLD 23EC (cypermethrin 30 g/L + quinalphos 200 g/L): sâu xanh/thuốc lá; rệp sáp/cà phê; sâu đục quả/đậu xanh; sâu đục thân, sâu cuốn lá, nhện gié/lúa.
Tuy nhiên, thuốc lân hữu cơ cũng độc với ong và thiên địch, nên thuốc phối sẵn không thay thế được việc luân phiên nhóm IRAC giữa các lứa sâu. Xem thêm về một hoạt chất lân hữu cơ khác tại profenofos là gì.
Hai sản phẩm phối sẵn ở trên đều chứa dimethoate, một hoạt chất lân hữu cơ lưu dẫn; cách nó tới được rệp sáp nấp kín và cách luân phiên khi dùng được giải thích trong bài Dimethoate Là Gì? Trị Rệp Sáp, Rầy Thế Nào Và Cách Dùng Cùng Fenobucarb.
Ứng Dụng Và Hạn Chế Của Cypermethrin
- Hạ gục nhanh sâu ăn lá và côn trùng chích hút trúng thuốc: sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu khoang, bọ xít, bọ trĩ, rệp sáp.
- Phổ đăng ký rộng trên lúa, cà phê, hồ tiêu, điều, đậu, lạc, bông vải tùy sản phẩm.
- Bền với ánh sáng hơn hẳn cúc tự nhiên, nên giữ được hiệu lực trên lá sau khi phun.
- Không lưu dẫn: sâu đã nằm trong tổ lá, trong thân, trong quả khó trúng thuốc. Khi sâu đã đục vào trong, cần hoạt chất có tính thấm sâu hoặc lưu dẫn phù hợp với đăng ký.
- Không phải thuốc chuyên trị rầy nâu và không nên phun sớm trên lúa khi chưa tới ngưỡng.
- Không phải thuốc trừ nhện: không sản phẩm cypermethrin đơn chất nào đăng ký cho nhện đỏ hay nhện gié.
- Không luân phiên được với thuốc cúc khác vì cùng nhóm 3A.
Cách Sử Dụng Cypermethrin An Toàn Và Hiệu Quả
Hiểu cơ chế rồi, cách dùng gần như tự suy ra được: thuốc chỉ tác động khi chạm vào sâu, sâu non nhỏ dễ trúng thuốc nhất, và thiên địch cũng trúng thuốc như sâu.
Cypermethrin rất độc với ong, cá và các loài giáp xác. Theo PPDB, liều gây chết một nửa số ong khi tiếp xúc chỉ khoảng 0,023 microgam mỗi con. Hồ sơ của Eawag-EPFL ghi nhận tôm nước ngọt Gammarus pulex bị ảnh hưởng ở nồng độ 0,0013 microgam/lít. Không phun khi cây đang ra hoa có ong kiếm ăn, không phun khi sắp mưa, không để thuốc trôi xuống ao, mương, và rửa bình phun xa nguồn nước.
Mang găng tay, khẩu trang, kính và quần áo dài khi pha và phun. Nếu thuốc dính da, rửa ngay bằng xà phòng và nước sạch. Bảo quản xa tầm tay trẻ em.
Thuốc Chứa Cypermethrin Tại Quốc Việt Agri
Alpha-Cypermethrin Trong Hóa Chất Diệt Côn Trùng
Alpha-cypermethrin không chỉ có trong thuốc bảo vệ thực vật. Hoạt chất này còn có trong các hóa chất diệt côn trùng dùng trong gia dụng và y tế, nhóm sản phẩm được đăng ký với ngành y tế để diệt muỗi, ruồi, kiến, gián. Cơ chế vẫn là giữ kênh natri thần kinh côn trùng ở trạng thái mở, nhưng mỗi nhóm sản phẩm có nhãn và mục đích sử dụng riêng: dùng đúng theo hướng dẫn trên nhãn của chính chế phẩm đó.
Cần tư vấn chọn thuốc theo cây trồng và loại sâu, liên hệ đội ngũ Quốc Việt Agri. Bài liên quan: bọ trĩ là gì và cách trị.
Bảng Tra Nhanh
| Mục | Nội dung |
|---|---|
| Hoạt chất | Cypermethrin; các dạng tách riêng: alpha-, beta-, zeta-cypermethrin |
| Nguồn gốc | Viện Rothamsted (Anh); tổng hợp năm 1974, đưa ra thị trường năm 1977 |
| Nhóm IRAC | 3A: chất điều biến kênh natri (nhóm cúc tổng hợp, pyrethroid) |
| Cách tác động | Tiếp xúc và đường ăn; không lưu dẫn |
| Tốc độ | Hạ gục nhanh |
| Đồng phân | 8 dạng; alpha-cypermethrin gồm 1 cặp trong 8 dạng |
| Đối tượng đăng ký thường gặp | Sâu cuốn lá, bọ trĩ, bọ xít, rầy xanh/lúa; rệp sáp/cà phê, hồ tiêu; bọ xít muỗi/điều; sâu xanh, sâu khoang/đậu, lạc |
| Rủi ro chính | Rất độc với ong, cá, giáp xác; có thể làm giảm thiên địch, gây rầy nâu tái bùng phát nếu phun sai lúc trên lúa |
| Luân phiên | Đổi sang nhóm IRAC khác 3A |
Kết Luận
Cypermethrin bắt đầu từ một loài hoa cúc có khả năng làm sâu ngã gục, và từ công việc kéo dài hàng chục năm ở Rothamsted để giữ cho hoạt chất đó không bị ánh nắng phá hủy. Kết quả là một loại thuốc hạ gục nhanh, bền trên lá và được dùng rộng rãi trên nhiều cây trồng. Nhưng cũng chính vì diệt nhanh và phổ rộng, cypermethrin cần được dùng đúng lúc: khi sâu non mới nở, đúng đối tượng đăng ký, đúng liều theo nhãn, và luân phiên với nhóm khác. Dùng như vậy, bà con giữ được cả hiệu lực của thuốc lẫn những thiên địch đang giúp ruộng vườn của mình.
Zalo: 096 994 2349
Nguồn Tham Khảo
- Rothamsted Research. Michael Elliott and the development of photostable pyrethroids (hồ sơ lịch sử, Rothamsted Repository).
- Elliott M., Farnham A.W., Janes N.F. et al. (1973). A Photostable Pyrethroid. Nature 246(5429):169-170. doi:10.1038/246169a0
- WHO/IPCS (1988). Cypermethrin Health and Safety Guide No. 22. Geneva: World Health Organization.
- FAO/WHO JMPR (2008). Cypermethrins (cypermethrin, alpha-cypermethrin, zeta-cypermethrin) – Pesticide residues in food, Report 2008, phần 4.6.
- Oekotoxzentrum Eawag-EPFL (2016). EQS – Vorschlag des Oekotoxzentrums für: Cypermethrin. Dübendorf, Thụy Sĩ.
- University of Hertfordshire. Pesticide Properties DataBase (PPDB): Cypermethrin (truy cập 10/2026).
- Soderlund D.M. (2012). Molecular mechanisms of pyrethroid insecticide neurotoxicity: recent advances. Archives of Toxicology 86(2):165-181. doi:10.1007/s00204-011-0726-x
- Toth S.J., Sparks T.C. (1990). Effect of Temperature on Toxicity and Knockdown Activity of cis-Permethrin, Esfenvalerate, and λ-Cyhalothrin in the Cabbage Looper (Lepidoptera: Noctuidae). Journal of Economic Entomology 83(2):342-346. doi:10.1093/jee/83.2.342
- Chelliah S., Heinrichs E.A. (1980). Factors Affecting Insecticide-Induced Resurgence of the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens on Rice. Environmental Entomology 9(6):773-777. doi:10.1093/ee/9.6.773
- Reissig W.H., Heinrichs E.A., Valencia S.L. (1982). Insecticide-Induced Resurgence of the Brown Planthopper, Nilaparvata lugens, on Rice Varieties with Different Levels of Resistance. Environmental Entomology 11(1):165-168. doi:10.1093/ee/11.1.165
- Heinrichs E.A., Reissig W.H., Valencia S. et al. (1982). Rates and Effect of Resurgence-Inducing Insecticides on Populations of Nilaparvata lugens (Homoptera: Delphacidae) and its Predators. Environmental Entomology 11(6):1269-1273. doi:10.1093/ee/11.6.1269
- Horgan F.G., Peñalver-Cruz A. (2022). Compatibility of Insecticides with Rice Resistance to Planthoppers as Influenced by the Timing and Frequency of Applications. Insects 13(2):106. doi:10.3390/insects13020106
- IRRI (Rice Today). Vietnam turns back a 'tsunami of pesticides'. International Rice Research Institute.
- Rinkevich F.D., Du Y., Dong K. (2013). Diversity and convergence of sodium channel mutations involved in resistance to pyrethroids. Pesticide Biochemistry and Physiology 106(3):93-100. doi:10.1016/j.pestbp.2013.02.007
- IRAC. Mode of Action Classification Scheme (nhóm 1B, 3A, 12, 13).
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam (Thông tư 75/2025/TT-BNNMT; Thông tư 28/2026/TT-BNNMT).